Bệnh Parkinson | Care For
Tìm kiếm

Bệnh Parkinson

Bệnh Parkinson_Copyright © 2020 CARE4. All Rights Reserved

1. Tổng quan

Chứng Parkinson hay Hội chứng Parkinson ( Parkinsonism ) bao gồm: Run, giảm vận động, cứng đờ, kèm theo bất thường về tư thế đứng và dáng đi. Dạng thường gặp nhất của chứng Parkinson là dạng bệnh tự phát, không tìm được căn nguyên rõ ràng, gọi là bệnh Parkinson ( parkinson disease ), ngày xưa gọi là chứng liệt run ( paralysis agitans ). Ngoài ra còn có chứng Parkinson sau viêm não ( postencephalitic pakinsonism – hiện nay hiếm gặp ), chứng parkinson do thuốc hay do nhiễm độc, chứng parkinson gia đình.

James Parkinson là người đầu tiên mô tả bệnh này vào năm 1817,  bao gồm những triệu chứng điển hình là vận động chậm chạp, cứng đờ, run khi nghỉ và dáng đi lê bước. Bệnh được xếp vào các rối loạn vận động, tuy nhiên các biến đổi về nhận thức ( Sa sút trí tuệ ) về sau có thể xuất hiện trên một số bệnh nhân.

2. Dịch tễ 

Bệnh Parkinson là bệnh phổ biến thứ hai trong các bệnh thoái hóa thần kinh, chỉ sau bệnh Alzheimer. Bệnh liên quan đến tuổi tác và thường ít xuất hiện trước 40 tuổi, tuổi khởi phát trung bình là 60. Chỉ dưới 10% bệnh nhân bệnh Parkinson phát bệnh trước 40 tuổi, lưu ý các trường phát bệnh sớm có thể đến từ nguyên nhân thứ phát khác.

3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Bệnh đặc trưng bởi hiện tượng mất các tế bào sắc tố trong phần đặc của liềm đen ( chất đen – substantia nigra ) ở trung não, do vậy chất đen trở nên nhợt màu hơn. Các tế bào này sản sinh dopamine đưa đến thể thể vân ( striatum, bao gồm nhân đuôi – caudate, và nhân bèo – putamen ). Khi số lượng các tế bào này mất đi nhiều hơn 60% sẽ làm thiếu hụt trầm trọng dopamine, gây ra các triệu chứng về vận động. Trong hệ chất đen – thể vân ( nigrostriatal system ), hai chất trung gian hóa học là acetylcholine và dopamine đóng vai trò đối kháng nhau. Sự cân bằng giữa hai chất này đảm bảo sự cân bằng trong hoạt động hưng phấn vá ức chế của các hạch nền. Thiếu hụt dopamine gây mất cân bằng hệ thống, và gây ra các triệu chứng của bệnh Parkinson.

Một đặc trưng giải phẫu bệnh của bệnh Parkinson là thể vùi Lewy ở chất đen. Thể vùi Lewy có thành phần chính là protein alpha – synuclein và ubiquitin. Người ta cho rằng tích tụ alpha – synuclein trong tế bào của chất đen gây ra chết tế bào theo chương trình.

Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của bệnh Parkinson. Một số giả thuyết được trình bày sau đây:

Giả thuyết về quá trình lão hóa

Cơ sở của giả thuyết này xuất phát từ việc bệnh Parkinson đa phần chỉ xảy ra chủ yếu sau 60 tuổi. Một số biểu hiện của người cao tuổi có nét tương đối giống các triệu chứng của bệnh Parkinson: Đi lại ngày càng khó khăn, đi bước nhỏ, xu hướng gấp gáp. Người ta nhận thấy nhiều bằng chứng về sự rối loạn chức năng của hệ dopamine ở người cao tuổi:

  • Lượng dopamine giảm rõ rệt ở người cao tuổi.
  • Càng lớn tuổi, số lượng tận cùng của synap dopamine càng giảm.
  • Trong quá trình lão hóa, có rất nhiều nơron tiết dopamine bị chết. Cứ sau 10 năm, lượng nơron ở liềm đen lại giảm đi 5%.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy một số triệu chứng ngoại tháp ở người già không giảm khi dùng L – Dopa. Điều này có nghĩa là tổn thương ngoại tháp ở người cao tuổi không giống bệnh nhân Parkinson. Khi dùng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có đánh dấu huỳnh quang, người ta thấy vị trí tổn thương ở người già ( đuôi nhân đuôi ) khác với bệnh nhân Parkinson ( nhân bèo ). Như vậy, nguyên nhân gây bệnh Parkinson không chỉ đơn thuần là do quá trình lão hóa.

Vai trò của các yếu tố môi trường

Người sống ở nông thôn và làm trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp có tỷ lệ bị bệnh Parkinson cao hơn người ở thành thị, có thể do phơi nhiễm thuốc trừ sâu và diệt cỏ như đã nêu trên. Ngoài ra, có 3 yếu tố gợi ý cơ chế bệnh truyền nhiễm của bệnh Parkinson sau vụ đại dịch viêm não ( Encephalitis lethargica, 1916-1927 ) ở Châu Âu và Bắc Mỹ, những người sống sót có tỷ lệ cao bị Parkinson sau đó 10 năm. Một số dòng virus cúm A có ái tính với chất đen và Amantadine dùng trong Parkinson lại vốn là một thuốc chữa cúm; kháng thể chống lại virus Epstein – Barr cũng có phản ứng với alpha – synuclein ở trong não người bệnh Parkinson.

Các tác nhân nhiễm khuẩn

Cho đến nay chưa thấy tác giả nào phát hiện biểu hiện nhiễm khuẩn, nhiễm virus chậm ở liềm đen của người bệnh Parkinson. Ngay cả khi tiêm chiết xuất não của bệnh nhân Parkinson vào súc vật cũng không gây biểu hiện bệnh. Tất cả các điều nêu trên cho thấy giả thuyết nhiễm khuẩn hoặc virus chậm chưa có cơ sở.

Vai trò của chấn thương

Mối liên hệ giữa chấn thương và bệnh Parkinson còn nhiều ý kiến không thống nhất. Cho đến nay, chưa có cơ sở rõ ràng để nói rằng chấn thương sọ não có thể gây ra quá trình thoái hóa bệnh lý. Một số nghiên cứu cho thấy tiền sử chấn thương sọ não làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Có lẽ chấn thương sọ não tạo điều kiện thuận lợi để làm bộc lộ một quá trình thoái hóa đã tiềm ẩn từ lâu.

Các tác nhân nhiễm độc

Người ta nói đến vai trò của MTTP ( 1 – methyl – 4 phenyl – 1,2,3,6 – tetrahydropyridine ) trong bệnh Parkinson. Những người nghiện ma túy dùng Loperidine ( chứa MPTP ) sẽ có biểu hiện khá giống các triệu chứng của người bệnh Parkinson nguyên phát. Nhưng mặt khác, quá trình tiếp xúc với MPTP cần phải có thời gian mới xuất hiện triệu chứng. Điều này có nghĩa số lượng các nơron tiết dopamine bị mất đi phải đạt tới “một ngưỡng” nào đó mới biểu hiện bệnh. Ngưỡng này chịu sự tác động của quá trình lão hóa. Nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học đã nghiên cứu mối liên quan giữa bệnh Parkinson và việc tiếp xúc và sử dụng hóa chất có cấu trúc giống MPTP. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh này tăng cao ở các trung tâm công nghiệp lớn ( sử dụng nhiều hóa chất ) và các vùng nông thôn có sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, diệt côn trùng. Như vậy, nếu tiếp xúc sớm với hóa chất thì nguy cơ mắc bệnh Parkinson sẽ sớm hơn. Tuy nhiên, cho dù có vai trò tác động của yếu tố độc hại ở bên ngoài thì việc phát triển bệnh Parkinson còn phụ thuộc cả vào tính nhạy cảm cũng như yếu tố di truyền của từng cá thể.

Yếu tố di truyền

Đa số các trường hợp bệnh Parkinson điển hình khởi phát sau tuổi 50 ( trung bình là 60 ) và không có yếu tố di truyền. Nhưng trong những trường hợp Parkinson gia đình khởi phát rất sớm, nhiều khả năng do các đột biến của gen. Ví dụ: Các đột biến alpha – synuclein, các đột biến của gen Parkin trên nhiễm sắc thể số 6, gen PINK1… Nghiên cứu về các thể di truyền của bệnh Parkinson gợi ý các bất thường trong con đường phân hủy Protein Ubiquitin, dẫn đến lắng đọng protein.

4. Yếu tố nguy cơ

  • Tuổi trên 60.
  • Nam giới.
  • Tiếp xúc với hóa chất và kim loại: Chất độc màu da cam, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, diệt nấm, thủy ngân, chì, mangan, đồng, sắt, nhôm, kẽm…
  • Đang sử dụng các nhóm thuốc hướng thần trị hoang tưởng và tâm thần phân liệt, ma túy và các chất kích thích.
  • Sử dụng nhiều các chế phẩm từ sữa.
  • Ung thư hắc tố ( Melanoma ).
  • Chấn thương đầu.
  • Tiền sử gia đình có người mắc Parkinson.
  • Chủng tộc: Người da trắng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người châu Á.

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ, còn có sự tồn tại của một số yếu tố bảo vệ có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên một vài yếu tố sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây hại của riêng chúng:

  • Thuốc lá.
  • Các thức uống chứa caffeine như trà, cà phê.
  • Nồng độ acid uric trong máu cao, mặc dù điều này lại là yếu tố nguy cơ rất lớn của bệnh Gout.
  • Dùng thuốc kháng viêm, thuốc thuộc nhóm statin.
  • Nồng độ vitamin D cao.
  • Tập thể dục.

5. Triệu chứng

Giai đoạn đầu các triệu chứng lâm sàng thường kín đáo. Người bệnh mệt mỏi, có cảm giác cứng lưng, cổ, vai, háng. Cột sống và các chi có xu hướng gấp, kém mềm mại, các động tác bị chậm lại. Khi đi, cánh tay ít hoặc không đung đưa theo nhịp bước. Dần dần, bước đi ngắn lại.

Tần số chớp mắt cũng giảm đi. Khe mi có vẻ rộng ra tạo cảm giác người bệnh luôn nhìn “chăm chú” ( dấu hiệu Stellwag ). Nếu gõ vào gốc mũi, người bệnh mất khả năng ức chế nháy mắt gây hiện tượng rung giật mi mắt ( dấu hiệu Myerson ).

Khi bệnh biểu hiện rõ, có sự xuất hiện của các triệu chứng sau:

Bệnh Parkinson

Run khi nghỉ

Điển hình là dấu hiệu run tay kiểu vê thuốc lá ở tay, đôi khi run ở chân hoặc cằm. Run là dấu hiệu dễ thấy nhất của Parkinson, đặc trưng là run khi nghỉ, run tăng khi xúc cảm và run giảm khi vận động chủ ý, khi ngủ. Run thường ở bàn tay hoặc bàn chân, một bên, sau vài tháng hay vài năm sẽ run cả hai bên. Có khi run ở môi, cằm cũng có một số ít bệnh nhân không run nhiều.

Giảm động

Là triệu chứng cơ bản và xuất hiện sớm ở bệnh nhân Parkinson. Các động tác khởi đầu chậm chạp. Tốc độ thực hiện các động tác chậm ( Bradykinesia ) và giảm biên độ của các động tác ( Hypokinesia ) làm động tác trở nên nghèo nàn. Có hiện tượng các cử động chủ ý bị chậm lại và giảm các vận động tự động kiểu như vung vẩy tay khi đi. Hiện tượng giảm động thấy rõ ở chi trên. Giảm động có thể gặp ở các loại hình vận động: Dáng đi, nét mặt, lời nói.

Cứng đờ – Tăng trương lực cơ

Cứng đờ là hiện tượng tăng trương lực cơ, thể hiện cả ở cơ chủ vận và cơ đối vận, do vậy khi yêu cầu bệnh nhân thả lỏng cơ, khám vận động thụ động một khớp, ta thấy có sức cản đều cả theo chiều gấp lẫn chiều duỗi của chi, và lực cản này giữ nguyên trong suốt quá trình gấp hay duỗi, do vậy gọi là tăng trương lực cơ theo kiểu ống chì ( giống như khi ta bẻ một ống bằng chì vậy ). Cần phân biệt cứng đờ và co cứng cơ: Co cứng cơ là tăng trương lực mạnh nhất lúc bắt đầu vận động thụ động ( hiện tượng dao nhíp ) và không đều giữa các nhóm cơ với nhau. Cứng đờ là tăng trương lực cơ kiểu ngoại tháp với bệnh Parkinson là điển hình, trong khi co cứng cơ là tăng trương lực cơ kiểu tháp, với di chứng sau đột quỵ não là điển hình. Ngoài ra, trong bệnh Parkinson, khám trương lực cơ thấy dấu hiệu bánh xe răng cưa, giống như khi ta vặn một bánh răng cơ khí. Hiện tượng này có thể do tăng trương lực kèm run gây nên. Dấu hiệu bánh xe răng cưa dễ thấy nhất ở cổ tay và gáy .

Rối loạn tư thế đứng và đi

Khi khởi phát, biểu hiện bằng dáng đi lê bước và tay không vung vẩy khi đi, thường chỉ ở một nửa người. Về sau khi bệnh phát triển thì lan sang cả hai bên. Bệnh nhân khó thay đổi hướng đi, khi đứng hoặc đi muốn xoay đổi thì phải xoay cả toàn thân và phải bước vài bước, không thể trụ xoay bằng một chân được. Người ta gọi động tác này là chứng xoay toàn khối. Tư thế cúi gập người ( đứng và đi còng lưng ) là đặc trưng cho bệnh Parkinson.

Trong giai đoan bệnh muộn hơn hay có chứng đi chúi ra phía trước và giật lùi ra sau. Chứng đi chúi ra phía trước: Do tư thế cúi gập gây hiện tượng trọng tâm cơ thể bị đưa ra phía trước và do khó khởi động động tác đi bình thường, nên bệnh nhân cúi người và đi những bước ngắn và nhanh như muốn chạy. Chứng giật lùi ra sau: Bệnh nhân bước lùi vài bước mà không thể cưỡng được. Cả hai chứng bất thường khi di chuyển này đều dễ dàng gây té ngã. Trong giai đoạn muộn cũng có chứng mất ổn định tư thế ( đứng mất vững ). Một số bệnh nhân rất khó khởi động động tác đi, một số khác bị chứng đông cứng khi đi: Khi đang đi mà thay đổi hướng đi hoặc bước qua ngưỡng cửa, thì cứng đờ trở lại.

Ngã là hậu quả của sự rối loạn thăng bằng và điều phối các cơ trục thân thể, rối loạn phản xạ tư thế. Hậu quả của ngã có thể làm gãy xương khiến bệnh nhân liệt giường.

Một số dấu hiệu khác của bệnh Parkinson: 

  • Mất biểu hiện vẻ mặt, nói khó, phát âm nhỏ, chảy nước dãi, chữ viết nhỏ.
  • Có mối liên quan giữa trầm cảm với bệnh Parkinson: Người bị trầm cảm có nguy cơ mắc bệnh Parkinson về sau cao gấp 3 lần so với người không bị trầm cảm; ngược lại, ở người bệnh Parkinson tỷ lệ bị trầm cảm từ 4 – 76%, tỷ lệ lo âu là 40%, sa sút trí tuệ thường không có trong giai đoạn đầu của bệnh trong giai đoạn muộn thì sa sút trí tuệ là 20 – 40% và nguy cơ bị sa sút trí tuệ ở người mắc bệnh cao gấp 6 lần so với người cùng tuổi.
  • Ảo giác trên bệnh nhân Parkinson chủ yếu là do thuốc và sa sút trí tuệ là một yếu tố nguy cơ của ảo giác. Tỷ lệ ảo giác do thuốc là 30% và các thuốc có liên quan thường là: Levodopa, các đồng vận Dopamine và Amatadine.
  • Rối loạn kiểm soát ham muốn: Tình dục quá độ, ăn uống…
  • Các hành vi ám ảnh: Là những hành vi lặp đi lặp lại, gây rối loạn hoạt động hàng ngày của người bệnh. Những rối loạn này thường liên quan nhiều đến thuốc Levodopa và thuốc đồng vận Dopamine
  • Bệnh nhân Parkinson rất hay bị rối loạn giấc ngủ, tỷ lệ mắc từ 75 – 90%, chủ yếu là khó ngủ và mất ngủ.
  • Các rối loạn thực vật hay gặp ở bệnh nhân Parkinson bao gồm: Táo bón, khó nuốt và nuốt ít, gây chảy nước dãi, tiểu nhiều lần và tiểu gấp, tụt huyết áp tư thế, rối loạn cương dương.

6. Các giai đoạn tiến triển của bệnh Parkinson

Theo thang điểm Hoehn và Yahr cải tiến, bệnh được chia thành 7 giai đoạn

  • Giai đoạn 1: Có các dấu hiệu ở một bên cơ thể, bệnh nhân vẫn tự chủ trong các sinh hoạt.
  • Giai đoạn 1.5: Biểu hiện ở một bên cơ thể kèm theo lệch trục.
  • Giai đoạn 2: Các dấu hiệu ở hai bên, chưa mất thăng bằng.
  • Giai đoạn 2.5: Các dấu hiệu ở hai bên mức độ nhẹ, vẫn có thể tự lấy lại thăng bằng trong nghiệm pháp đẩy.
  • Giai đoạn 3: Các dấu hiệu ở hai bên mức độ nhẹ đến trung bình, có một vài rối loạn về tư thế – dáng bộ, chưa ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.
  • Giai đoạn 4: Bị mất chức năng đáng kể, tuy nhiên vẫn có thể đi lại hay đứng dậy mà không cần giúp đỡ.
  • Giai đoạn 5: Phải sử dụng xe lăn hoặc nằm liệt giường nếu không có người giúp đỡ, không còn tự chủ được.

7. Chẩn đoán

Tiêu chuẩn chẩn đoán cổ điển 3S bao gồm:

  • Slow ( chậm )
  • Stiff ( cứng )
  • Shaky ( run khi nghỉ )

Không tính triệu chứng về tư thế, chỉ cần 2S là đủ chẩn đoán.

Dấu hiệu mất vững tư thế sẽ thấy trong giai đoạn về sau của bệnh. Một đặc trưng nữa là khi khởi phát thì thường triệu chứng ở một bên thân thể. Nếu có hai trong ba triệu chứng chính ( không kể chứng mất vững tư thế ), không tìm thấy căn nguyên gây hội chứng Parkinson, không có bằng chứng lâm sàng của tổn thương trung ương lan tỏa, thì có thể chẩn đoán bệnh Parkinson.

Ngày nay, bảng tiêu chuẩn của Ngân hàng Não Anh Quốc ( UK Brain Bank Criteria ) được ứng dụng rộng rãi:

  1. Chậm vận động.
  2. Có một hoặc hơn trong số các dấu hiệu: Cứng đờ, run khi nghỉ, mất vững tư thế.
  3. Loại trừ những biểu hiện không điển hình của Parkinson: Đột quỵ tái phát lặp đi lặp lại, chấn thương sọ não lặp đi lặp lại, sa sút trí tuệ sớm…
  4. Có từ 3 tiêu chuẩn hỗ trợ trở lên bao gồm: Khởi đầu các triệu chứng ở nửa người, run khi nghỉ, đáp ứng tốt với Levodopa, múa giật do Levodopa gây ra…

Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng Ngân hàng Não của Hội bệnh Parkinson Anh Quốc ( UK Brain Bank Criteria ):

  1. Tiêu chuẩn khẳng định: Chậm vận động và kèm theo ít nhất một trong các biểu hiện dưới đây
    • Cứng đờ cơ.
    • Run khi nghỉ với tần số 4 – 6 Hz.
    • Mất vững tư thế không phải do rối loạn chức năng thị giác, tiền đình, tiểu não hay cảm giác sâu.
  2. Tiêu chuẩn loại trừ
    • Tiền sử bị đột quỵ lặp đi lặp lại với các biểu hiện Parkinson tăng dần.
    • Tiền sử bị chấn thương đầu lặp đi lặp lại.
    • Tiền sử bị viêm não đã xác định chắc chắn.
    • Có các cơn xoay mắt.
    • Có điều trị bằng thuốc tâm thần lúc mới khởi đầu bị bệnh.
    • Có hơn một người trong gia đình cũng bị bệnh.
    • Thuyên giảm kéo dài.
    • Các biểu hiện chỉ có ở nửa người trong vòng trên 3 năm.
    • Liệt nhìn trên nhân.
    • Có dấu hiệu tiểu não.
    • Rối loạn thần kinh thực vật nặng và sớm.
    • Sa sút trí tuệ nặng và sớm, với rối loạn trí nhớ, ngôn ngữ và thói quen.
    • Dấu Babinski.
    • Trên CT scan có u não hoặc chứng não úng thủy do tắc nghẽn.
    • Đáp ứng âm tính với Levodopa liều cao, nếu đã loại trừ nguyên nhân kém hấp thụ thuốc.
    • Phơi nhiễm với chất MPTP.
  3. Tiêu chuẩn hỗ trợ: Cần có ít nhất 3 tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh Parkinson
    • Khởi phát ở nửa người.
    • Run khi nghỉ.
    • Bệnh tăng tiến dần.
    • Bên nửa người bị lúc khởi bệnh về sau bên đó vẫn bị nặng hơn bên kia.
    • Đáp ứng rất tốt với thuốc Levodopa (70 – 100%).
    • Bị chứng múa giật nặng do Levodopa gây ra.
    • Đáp ứng với Levodopa từ 5 năm trở lên.
    • Diễn tiến lâm sàng bệnh kéo dài từ 10 năm trở lên.

8. Chẩn đoán phân biệt

  • Run vô căn: Run tư thế khi giơ tay lên, hiện diện khi vận động, giảm khi uống rượu và nghỉ ngơi, tăng khi bệnh nhân xúc động, lo âu. Trường hợp nặng có thể lan cả đầu làm gật hoặc lắc đầu.
  • Hội chứng Parkinson do thuốc: Cần phải loại trừ đầu tiên vì ở trường hợp này, chỉ cần ngưng thuốc là tình trạng bệnh nhân sẽ được cải thiện. Triệu chứng thường xuất hiện sớm, có khi sau vài tuần hoặc vài tháng dùng thuốc, có thể ở hai bên và kèm theo các rối loạn vận động như múa giật, múa vờn, loạn trương lực cơ. Các loại thuốc hướng thần thế hệ cũ ( Haloperidol, Risperidone ) khi dùng liều cao và các thuốc chống nôn ( Prochlorperazine, Metoclopramide) khi dùng trên 6 tháng có khả năng gây ra tình trạng này.
  • Hội chứng Parkinson – plusThoái hóa đa hệ thống ): Thường xảy ra ở người trẻ, với các triệu chứng rối loạn tư thế sớm và giới hạn nhìn xuống, cũng như rối loạn thần kinh tự chủ đáng kể hay hội chứng tiểu não ( Rối loạn thăng bằng, bước đi không đều, run tay tăng lên khi tập trung, giảm sức cơ, nói chậm, viết chữ nguệch ngoạc… )
  • Sa sút trí tuệ thể Lewy: Quá trình mất trí nhớ diễn ra nhanh chóng, trong vòng một năm từ khi xuất hiện các triệu chứng vận động. Trong khi đối với bệnh Parkinson, sa sút trí tuệ chỉ xảy ra khi thời gian mắc bệnh kéo dài và thường khi đó, các triệu chứng vận động đã nặng nề.
  • Hội chứng Parkinson do tổn thương mạch máu: Thường xảy ra sau nhồi máu não nhiều lần, triệu chứng diễn tiến theo hình bậc thang, thường rõ lên sau khi triệu chứng liệt thuyên giảm. Bệnh nhân có tình trạng chậm vận động đối xứng và dáng đi lê bước, có thể kèm rối loạn cảm giác, sa sút trí tuệ, tăng phản xạ. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh học ( CT scan, MRI ).
  • Teo nhiều hệ thống ( Multiple system atrophy – MSA ): Là một bệnh nặng, tiến triển đến tử vong trong vòng 5 – 10 năm, đáp ứng một phần hoặc không đáp ứng gì với Levodopa. Biểu hiện lâm sàng:
    • Các triệu chứng kiểu Parkinson.
    • Thất điều tiểu não.
    • Rối loạn thực vật ( Nổi bật là hạ huyết áp thế và các rối loạn chức năng niệu sinh dục ).
    • Dấu hiệu lâm sàng của tổn thương bó tháp ( Dấu babinski kèm tăng phản xạ ). Nếu dấu hiệu Babinski là nổi trội, ta gọi là MSA – P, nếu dấu hiệu rối loạn chức năng tiểu não là nổi trội, ta gọi là MSA – C.
  • Các hội chứng Parkinson khác: Hội chứng Parkinson chỉ ở thân mình và rối loạn dáng đi liên quan đến mạch máu nhỏ ở não, hội chứng Parkinson thứ phát do thuốc an thần ( Hội chứng Parkinson do thuốc ). Còn có hội chứng Parkinson do độc tố: Mangan, oxit cacbon ( CO ) hoặc MPTP.

9. Điều trị

Mục tiêu điều trị

Mục đích chính là cải thiện các triệu chứng, giảm cản trở hoạt động hằng ngày, duy trì các hoạt động chức năng cũng như trì hoãn các biến chứng và tàn phế càng lâu càng tốt với liêu thuốc sử dụng thấp nhất.

Điều trị dùng thuốc

  • Thuốc kháng cholinergic ( Benztropine mesylate, Trihexiphenidyl mesylate ): Thường không được sử dụng do dung nạp kém và ít hiệu quả trừ tường hợp bệnh nhân trẻ, run nặng gây mất chức năng, dùng kèm với Levodopa.
    • Tác dụng phụ: Khô miệng, mờ mắt, ứ đọng nước tiểu, lũ lẫn, suy nghĩ chậm, ảo giác…
  • Amantadine: Là thuốc kháng virus nhưng được chứng minh có hiệu quả trong bệnh Parkinson giai đoạn sớm và nhẹ. Hiệu quả dùng thuốc giảm dần sau thời gian ngắn.
    • Tác dụng phụ: Bồn chồn, lú lẫn, nổi mẩn da, phù chân, loạn nhịp tim.
  • Thuốc ức chế Monoamine oxidase B ( MAO-B ) ( Selegiline, Rasagiline ): Selegiline làm giảm chuyển hóa dopamine dẫn đến làm giảm tổn thương và chậm tiến trình bệnh, được dùng trong giai đoạn sớm và nhẹ. Rasagiline là thuốc thế hệ mới hấp thu tốt hơn, có thể dùng điều trị giai đoạn tiến triển.
    • Tác dụng phụ: Lo âu, mất ngủ.
  • Levodopa: Tiền chất của dopamine, là thuốc điều trị triệu chứng vận động hiệu quả nhất trừ run.
    • Tác dụng phụ: Buồn nôn, nôn, lú lẫn, ảo giác, loạn vận động ( bồn chồn, lắc lư, nhăn mặt, múa giật, múa vờn, loạn trương lực cơ ).
  • Thuốc đồng vận Dopamine ( Bromocriptin, Pergolide, Pramipexole, Apomorphine ): Tác dụng kích thích thụ thể dopamine, thường được dùng đơn độc trong giai đoạn sớm hoặc kết hợp với Levodopa nhằm trì hoãn biến chứng loạn vận động.
    • Tác dụng phụ: Tương tự Levodopa nhưng thường gặp lú lẫn, ảo giác nhiều hơn.
  • Thuốc ức chế Catechol – o – methyltransferase ( COMT ) ( Tolcapone, Entacapone ): Giúp kéo dài thời gian tác dụng của Levodopa nên thường được dùng chung với nhau.

Điều trị không dùng thuốc

  • Phẫu thuật: Được dùng trong Parkinson giai đoạn tiến triển phụ thuộc vào Levodopa nhưng không thể kiểm soát được triệu chứng loạn vận động đi kèm. Bao gồm các phương pháp can thiệp như kích thích não sâu, mở đồi thị, mở bèo sẫm…
  • Vật lý trị liệu phục hồi chức năng: Khắc phục những hậu quả tàn phế do bệnh gây nên, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Dinh dưỡng: Bệnh nhân Parkinson nên uống nhiều nước, ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, ưu tiên hoa quả, rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt và những thực phẩm nhiều chất xơ khác, giảm lượng gia vị ( đường, muối ) tiêu thụ, ít chất béo và hạn chế rượu bia để duy trì sức khỏe tốt nhất.

10. Dự phòng

Các biện pháp có khả năng giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson

  • Bổ sung đủ vitamin D cho cơ thể.
  • Uống trà xanh hàng ngày có tác dụng ngăn không cho độc tố có thể giết chết tế bào thần kinh thâm nhập vào não.
  • Sử dụng cà phê hợp lý giúp ngăn ngừa nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh.
  • Tránh tiếp xúc với các chất độc hóa học, đặc biệt là thuốc trừ sâu…
  • Bổ sung nguồn dinh dưỡng từ những loại thực phẩm giàu flavonoid: Ngò tây, việt quất và các berry khác, trà đen, trà xanh và trà ô long, chuối, các loại quả có múi, bạch quả, vang đỏ, hắc mai biển và socola đen.
  • Tập thể dục phù hợp với lứa tuổi. 

Hỏi đáp

Mặc dù y học hiện đại chưa thể chữa khỏi hoàn toàn bệnh Parkinson, nhưng bạn có thể kiểm soát tốt các triệu chứng của bệnh bằng cách dùng thuốc.

Khi bệnh không còn đáp ứng với thuốc, bác sĩ có thể cân nhắc phẫu thuật. Đặc biệt, bạn cũng cần xây dựng lối sống lành mạnh, thay đổi chế độ ăn và tập luyện đều đặn để ngăn chặn tiến triển của bệnh.

Vì bệnh Parkinson giai đoạn đầu các biểu hiện thường mơ hồ và khó nhận biết, người cao tuổi và gia đình nên chú ý khi có nhiều hơn một dấu hiệu sau đây, sẽ tốt hơn khi tìm gặp bác sĩ để tư vấn. Tuy nhiên nên lưu ý nếu các dấu hiệu này tồn tại cũng không có nghĩa là mắc bệnh.

  1. Run
    • Có tình trạng rung hoặc run nhẹ ngón tay, ngón cái, bàn tay hoặc cằm. Run khi nghỉ ngơi là dấu hiệu ban đầu phổ biến của bệnh Parkinson.
    • So sánh với bình thường: Run sau khi vận động nặng, căng thẳng, bị thương hoặc đang dùng các loại thuốc khác
  2. Viết chữ nhỏ
    • Chú ý xem chữ viết tay có nhỏ hơn nhiều so với trước đây không? Không chỉ kích thước nhỏ hơn, các từ còn có thể chen chúc nhau. Sự thay đổi trong chữ viết tay có thể là dấu hiệu của bệnh Parkinson được gọi là micrographia.
    • So sánh với bình thường: Đôi khi chữ viết có thể thay đổi khi lớn tuổi, do giảm thị lực hoặc cứng bàn tay.
  3. Mất khứu giác
    • Nếu tình trạng mất khứu giác diễn ra trong thời gian gần đây và người cao tuổi càng ngày càng khó ngửi được mùi của thực phẩm thơm như chuối, dưa chua, thì là hoặc cam thảo, có khả năng là triệu chứng sớm của Parkinson.
    • So sánh với bình thường: Khứu giác có thể thay đổi và ảnh hưởng khi bị cảm lạnh, cảm cúm hoặc nghẹt mũi, nhưng sẽ nhanh chóng trở lại bình thường khi khỏi bệnh.
  4. Khó ngủ
    • Đôi khi nằm lăn lộn trên giường, mơ khi đang ngủ sâu hay những cử động đột ngột khi ngủ có thể là dấu hiệu của bệnh Parkinson.Người ngủ cùng có thể là người đầu tiên phát hiện ra điều này.
    • So sánh với bình thường: Hầu hết mọi người đều từng có một đêm ‘trằn trọc’ khó ngủ.Tương tự, giật nhanh khi bắt đầu ngủ hoặc khi ngủ chưa sâu thường là những hiện tượng bình thường.
  5. Gặp vấn đề khi di chuyển hoặc đi bộ
    • Căng cứng tay chân, vai, hông hoặc giảm đung đưa cánh tay khi đi bộ cũng có thể là dấu hiệu. Đôi khi, có thể gặp trường hợp chân “bị dính chặt vào sàn”.
    • So sánh với bình thường: Cứng vai hoặc tay do chấn thương, viêm khớp hoặc bệnh lý cơ xương khớp khác.
  6. Táo bón
    • So sánh với bình thường: Uống ít nước, ăn ít chất xơ và dùng thuốc (ví dụ thuốc giảm đau) cũng gây táo bón.
  7. Giọng nói nhẹ nhàng hoặc trầm xuống
    • Bạn có nghe người khác nhận xét về giọng mình nhẹ hay khàn hơn? Nếu có sự thay đổi trong giọng nói, bạn nên đến gặp bác sĩ để xem liệu đó có phải là bệnh Parkinson hay không.
    • So sánh với bình thường: Cảm lạnh hoặc nhiễm virus cũng có thể làm thay đổi giọng nói, nhưng sau khi khỏi bệnh sẽ trở lại bình thường.
  8. Ít biểu lộ cảm xúc
    • Còn được gọi là triệu chứng mặt nạ, với gương mặt trông có vẻ nghiêm túc hoặc giận dữ ở mọi lúc.
    • So sánh với bình thường: điều tương tự có thể xảy ra khi dùng một số loại thuốc, nhưng sẽ mất đi sau khi ngừng thuốc.
  9. Chóng mặt hoặc ngất xỉu
    • Cảm thấy chóng mặt hoặc ngất xỉu có thể là dấu hiệu của huyết áp thấp và cũng có thể liên quan đến bệnh Parkinson.
    • So sánh với bình thường: Người bình thường cũng có thể gặp biểu hiện này nhưng không thường xuyên.
  10. Khom lưng
    • Nếu bạn hoặc người thân nhận thấy xu hướng khom lưng, nghiêng người hoặc chùng xuống khi đứng, đó có thể là dấu hiệu của bệnh Parkinson.
    • So sánh với bình thường: Khom hoặc gù lưng do chấn thương, các bệnh lý khác hoặc do bẩm sinh.

Các biện pháp có khả năng giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson

  • Bổ sung đủ vitamin D cho cơ thể.
  • Uống trà xanh hàng ngày có tác dụng ngăn không cho độc tố có thể giết chết tế bào thần kinh thâm nhập vào não.
  • Sử dụng cà phê hợp lý giúp ngăn ngừa nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó giúp hạn chế nguy cơ mắc bệnh.
  • Tránh tiếp xúc với các chất độc hóa học, đặc biệt là thuốc trừ sâu…
  • Bổ sung nguồn dinh dưỡng từ những loại thực phẩm giàu flavonoid: Ngò tây, việt quất và các berry khác, trà đen, trà xanh và trà ô long, chuối, các loại quả có múi, bạch quả, vang đỏ, hắc mai biển và socola đen.
  • Tập thể dục phù hợp với lứa tuổi. 

Tham vấn y khoa

Vì Parkinson là bệnh tiến triển theo thời gian, nên ở giai đọan cuối cùng bệnh nhân sẽ cần giúp đỡ nhiều trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Những người chăm sóc và người bệnh nên hướng tới các nguồn thông tin có thể giúp họ tìm hiểu những ảnh hưởng về thể chất và tâm lý của người bệnh Parkinson và cách giúp đỡ bệnh nhân hoạt động tốt nhất có thể. Việc chăm sóc về lâu dài gây ra nhiều mệt mỏi và căng thẳng, người chăm sóc nên được khuyến khích tiếp nhận sự hỗ trợ từ cộng đồng để giúp giảm gánh nặng về mặt tâm lý.

Cuối cùng, hầu hết các bệnh nhân Parkinson đều trở nên giảm trí nhớ và mất dần khả năng vận động. Bệnh nhân dễ bị nghẹn ứ, khó nuốt, ngay cả khi có sự trợ giúp. Vì vậy điều trị ngày càng khó, nguy cơ tử vong do viêm phổi hít cao. Tùy theo tình trạng, bệnh nhân nên được đưa đến nơi có thiết bị tốt nhất nên để trợ giúp tại Trung tâm Lão khoa hoặc bệnh viện dành cho người cao tuổi.

Bs. Nguyễn Đăng Ngọc Duyên

Bệnh liên quan