Sa sút trí tuệ (Dementia) | Care For
Dịch vụ
  • Bệnh viện
  • Chăm sóc trong ngày
  • Chăm sóc tại nhà
  • Nhà dưỡng lão tình thương dành
  • Trung tâm Bảo trợ xã hội
  • Viện dưỡng lão
Địa điểm

Sa sút trí tuệ

Sa sút trí tuệ(Mất Trí Nhớ)_Dementia_Copyright © 2020 CARE4. All Rights Reserved

Mục lục

1. Tổng quan

Sa sút trí tuệ ( Dementia ) là một hội chứng đặc trưng bởi sự suy giảm trí nhớ cùng các chức năng nhận thức; sự suy giảm này nằm ngoài giới hạn bình thường của quá trình lão hóa.

Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến trí nhớ, tư duy, định hướng không gian – thời gian ( xác định ngày tháng, địa điểm ), khả năng tính toán, học tập, ngôn ngữ và phán đoán – đưa ra quyết định, ngoài ra còn có thể giảm khả năng kiểm soát cảm xúc và ƒhành vi. Tuy nhiên, ý thức của bệnh nhân không bị ảnh hưởng. Bệnh cảnh lâm sàng có thể diễn tiến tuần tự như trong Alzheimer, đột ngột như trong đột quỵ não, hoặc biến thiên theo ngày thậm chí theo phút như bệnh sa sút trí tuê do thể Lewy gây ra.

Tần suất mắc sa sút trí tuệ tăng theo tuổi, tại Việt Nam, tỷ lệ mắc là 4,6% ( theo số liệu của Viện Lão khoa quốc gia ). Trên 60 tuổi, cứ tăng 5 tuổi thì tần suất mắc sa sút trí tuệ tăng gấp đôi, gây ảnh hưởng đáng kể về thể chất, tinh thần, xã hội và kinh tế của bệnh nhân và gia đình, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Tuy vậy sự hiểu biết và nhận thức về bệnh vẫn chưa thật sự được quan tâm đúng mức.

2. Bệnh sinh

Sa sút trí tuệ có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó thường gặp nhất bao gồm:

  • Bệnh Alzheimer: Chiếm 60-70% số trường hợp sa sút trí tuệ. Sinh lý bệnh đặc trưng của Alzheimer là sự lắng đọng các mảng beta amyloid và đám rối thần kinh làm ngăn chặn sự giao tiếp giữa các tế bào thần kinh và làm cho chúng chết dần đi.
  • Sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu: Tình trạng này có thể xảy ra khi đột quỵ một lần hoặc nhiều lần theo thời gian. Các triệu chứng sẽ thay đổi tùy vào vị trí và quy mô của vùng não do mạch máu chi phối.

Trường hợp pha trộn giữa Alzheimer và nguyên nhân mạch máu cũng tương đối phổ biến.

Các nguyên nhân khác ít gặp hơn có thể kể đến:

  • Sa sút trí tuệ thể Lewy ( Lewy bodies: Tập hợp protein alpha-synuclein bất thường phát triển bên trong các tế bào thần kinh ).
  • Sa sút trí tuệ thùy trán – thái dương: Thường khởi phát vào tuổi 50 – 60 nhưng có thể sớm hơn. Triệu chứng có thể phát triển riêng biệt theo hai hướng hoặc trộn lẫn vào nhau: Thùy trán ( liên quan đến thay đổi hành vi – tính cách ) và thái dương ( suy giảm khả năng ngôn ngữ ).
  • Chấn thương đầu.
  • U não.
  • Não úng thủy ( Hydrocephalus ).
  • Bệnh Parkinson ( Một số trường hợp ).
  • Viêm não – màng não do vi khuẩn, virus ( HIV và nhiều loại virus khác ), ký sinh trùng, nấm…
  • Thiếu Vitamin ( B1, B3, B12 ).
  • Rối loạn hormon tuyến giáp và tuyến thượng thận.
  • Thuốc và độc chất: Rượu, thuốc an thần, thuốc hạ áp, kháng cholinergic, ngộ độc kim loại nặng.
 

3. Yếu tố nguy cơ

  • Tuổi tác.
  • Tiền sử gia đình có người mắc sa sút trí tuệ.
  • Giới tính nữ ( Nữ giới có nguy cơ mắc Alzheimer dẫn đến sa sút trí tuệ cao hơn, tuy nhiên với các nguyên nhân khác tỷ lệ nam nữ lại tương đối ngang bằng ).
  • Chủng tộc: Người Đông Á, Châu Phi, vùng biển Caribbean có nguy cơ cao hơn các chủng tộc khác.
  • Yếu tố di truyền: Đột biến gen apolipoprotein E 4 ( APOE ), đột biến nhiễm sắc thể số 1, 14, 21.
  • Các bệnh đi kèm: Đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, tăng lipid máu, béo phì, trầm cảm…
  • Chấn thương vùng đầu.
  • Lối sống: Hút thuốc lá, thiếu vận động, chế độ ăn nhiều mỡ, uống nhiều rượu, ít giao tiếp xã hội,…
 

4. Triệu chứng

Suy giảm trí nhớ

  • Giai đoạn đầu các thay đổi trí nhớ thường không đáng kể và ảnh hưởng đến trí nhớ ngắn hạn: Giảm khả năng tiếp thu kiến thức mới, quên mất nơi để đồ, không nhớ lý do hoặc những việc cần làm trong một ngày.
  • Giai đoạn sau mức độ suy giảm trí nhớ trầm trọng hơn, có thể quên những chi tiết quan trọng ( tên người thân, cuộc hẹn, uống thuốc ), cho dù cố nhớ cũng không nhớ được.

Suy giảm ngôn ngữ nói và viết

  • Không tìm được từ, giảm lưu loát, chỉ nói được những câu ngắn, nói vòng vo, gọi sai tên đồ vật.
  • Giai đoạn đầu khả năng nghe hiểu hướng dẫn còn tương đối tốt, về sau bệnh nhân thường xuyên không hiểu câu hỏi, phải nhắc lại.

Giới hạn vận động

  • Giảm dần khả năng thực hiện các công việc hằng ngày từ phức tạp như lái xe, thanh toán hóa đơn, uống thuốc… rồi dần đến các công việc đơn giản hơn như ăn uống, vệ sinh cá nhân, mặc quần áo.
  • Mất nhận thức.
  • Không nhận ra các đồ vật thông thường và công dụng của chúng.
  • Giảm nhận biết hình ảnh: Không nhận ra gương mặt người thân, cuối cùng không nhận ra bản thân mình.

Giảm chức năng điều hành

  • Giảm khả năng lập và thực hiện kế hoạch, làm việc với số liệu, tiếp nhận thông tin và đưa ra quyết định.
  • Giảm khả năng tập trung.
  • Giảm khả năng đánh giá, phán xét, suy luận, suy nghĩ logic.
  • Tốn nhiều thời gian hơn để thực hiện các công việc họ đã làm trước đây.
  • Mất định hướng không gian, giảm chức năng thị giác – không gian ( không biết mình đang ở đâu dù đang ở nơi quen thuộc, dễ bị lạc, không vẽ được hình theo không gian ba chiều ).

Rối loạn về hành vi

  • Thay đổi nhân cách: Thụ động, thờ ơ, đa nghi, chán nản, sợ hãi, lo lắng thái quá hoặc tự cho mình là trung tâm.
  • Mất kiềm chế hành vi: Kích động, vô cảm, xa lánh, đi lang thang.
  • Trầm cảm: Đặc biệt thường gặp trong bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ do mạch máu.
  • Rối loạn giấc ngủ.
  • Biểu hiện tâm thần: Ảo giác ( nhìn thấy những thứ không có thật ), hoang tưởng ( nghĩ rằng có người ám hại, nói dối ).
 

5. Chẩn đoán

Theo cẩm nang DSM 5 ( Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders ) của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ được chia theo các mục sau

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ ( DSM 5 )

  1. Có bằng chứng suy giảm nhận thức đáng kể ở ít nhất 2 trong các lĩnh vực ( tập trung chú ý, chức năng điều hành, học tập và trí nhớ, chức năng ngôn ngữ, thị giác không gian và nhận thức xã hội ) dựa trên
    • Than phiền của người bệnh, người thân, hoặc ghi nhận bởi bác sĩ về sự suy giảm rõ rệt chức năng nhận thức của bệnh nhân; :
    • Suy giảm đáng kể trong biểu hiện nhận thức, tốt nhất là xác định bởi các test tâm thần kinh đã được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng có chất lượng.
  2. Suy giảm nhận thức làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động hằng ngày ( cần sự hỗ trợ ở các hoạt động phức tạp như trả hóa đơn, uống thuốc…).
  3. Bệnh nhân không đang trong cơn mê sảng, lú lẫn cấp.
  4. Suy giảm nhận thức không phải do nguyên nhân tâm thần kinh khác ( trầm cảm, tâm thần phân liệt…).

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer ( DSM 5 )

  1. Thỏa mãn tiêu chuẩn sa sút trí tuệ.
  2. Suy giảm nhận thức khởi phát từ từ và tiến triển tăng dần ít nhất ở 2 lĩnh vực.
  3. Thỏa mãn tiêu chuẩn có khả năng hoặc có thể bệnh Alzheimer dưới đây

Đối với suy giảm nhận thức thần kinh trung bình – nặng

Chẩn đoán Có khả năng bệnh Alzheimer khi thỏa cả hai tiêu chuẩn (1) và (2), nếu chỉ thỏa một tiêu chuẩn, chẩn đoán có thể bệnh Alzheimer:

    1. Bằng chứng đột biến gen gây bệnh Alzheimer từ tiền sử gia đình hoặc di truyền học.
    2. Thỏa cả ba tiêu chuẩn sau
      • Bằng chứng rõ ràng về giảm trí nhớ, khả năng học tập và ít nhất một trong các lĩnh vực nhận thức khác ( dựa vào hỏi bệnh sử và các test tâm thần kinh ).
      • Tiến triển nặng dần, liên tục và từ từ, không có thời kỳ bình nguyên kéo dài.
      • Không có bằng chứng của các nguyên nhân kết hợp khác ( không có bệnh lý thoái hóa thần kinh, bệnh lý mạch máu não hoặc các rối loạn thần kinh, tâm thần khác hoặc các bệnh lý hệ thống gây suy giảm nhận thức ).

Đối với suy giảm nhận thức thần kinh mức độ nhẹ

Chẩn đoán Có khả năng bệnh Alzheimer khi có bằng chứng đột biến gen gây bệnh từ tiền sử gia đình hoặc bằng chứng di truyền học.

Chẩn đoán Có thể bệnh Alzheimer khi không có bằng chứng đột biến gen gây bệnh từ tiền sử gia đình hoặc bằng chứng di truyền học, đồng thời thỏa cả ba tiêu chuẩn sau

      • Có bằng chứng rõ ràng trong việc suy giảm trí nhớ và khả năng học tập.
      • Tiến triển nặng dần, liên tục và từ từ, không có thời kỳ bình nguyên kéo dài.
      • Không có bằng chứng của các nguyên nhân kết hợp khác ( không có bệnh lý thoái hóa thần kinh, bệnh lý mạch máu não hoặc các rối loạn thần kinh, tâm thần khác hoặc các bệnh lý hệ thống gây suy giảm nhận thức ).

Những rối loạn này không được giải thích tốt hơn bởi các bệnh lý mạch máu não, các bệnh lý thoái hóa thần kinh, tác dụng của một chất hoặc các bệnh lý tâm thần – thần kinh – hệ thống khác.

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ do mạch máu ( DSM 5 )

  1. Thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ.
    • Bệnh cảnh lâm sàng phù hợp với nguyên nhân mạch máu, với một trong hai gợi ý:
    • Khởi phát suy giảm nhận thức tạm thời, liên quan đến biến cố mạch máu não.
  2. Bằng chứng suy giảm nhận thức trội hơn trong các hoạt động chú ý phức tạp ( bao gồm cả tốc độ xử lý ) và chức năng điều hành thùy trán.
  3. Có bằng chứng tồn tại của bệnh lý mạch máu não từ tiền sử, khám lâm sàng và/ hoặc hình ảnh học thần kinh đủ để quy kết cho thiếu sót thần kinh nhận thức.
  4. Triệu chứng không được giải thích phù hợp hơn bởi các bệnh lý tại não hoặc bệnh lý hệ thống khác.

 Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ thùy trán – thái dương ( DSM 5 )

  1. Thỏa mãn tiêu chuẩn bệnh lý sa sút trí tuệ.
  2. Rối loạn này có khởi phát từ từ và tiến triển tăng dần.
  3. Thỏa điều kiện (1) hoặc (2):
    1. Thay đổi hành vi
      1. Có ba hoặc hơn các triệu chứng về hành vi
        • Giải ức chế hành vi ( chống đối xã hội, bốc đồng, vi phạm pháp luật, tìm kiếm cảm giác mạnh ).
        • Thờ ơ, chậm chạp.
        • Mất đồng cảm và thấu cảm.
        • Hành vi lặp lại, kiên trì, rập khuôn hoặc hành vi ép buộc, lễ nghi.
        • Thay đổi chế độ ăn uống, tùy tiện cho thức ăn vào miệng.
      2. Giảm rõ rệt nhận thức xã hội và khả năng điều hành.
    2. Thay đổi ngôn ngữ: Giảm rõ rệt khả năng ngôn ngữ: Tạo lời nói, tìm từ, gọi tên vật, ngữ pháp hoặc hiểu từ.
  4. Bảo tồn tương đối khả năng học tập, trí nhớ và chức năng tri giác – vận động.
  5. Rối loạn này không được giải thích phù hợp hơn bởi các bệnh lý mạch máu não, các bệnh lý thoái hóa thần kinh khác, tác dụng của một chất hoặc các bệnh lý tâm thần – thần kinh – hệ thống khác.

Chẩn đoán có khả năng sa sút trí tuệ thùy trán – thái dương nếu thỏa một trong các tiêu chuẩn sau:

  1. Bằng chứng đột biến gen gây suy giảm nhận thức thùy trán – thái dương, từ tiền sử gia đình hoặc từ xét nghiệm di truyền học.
  2. Bằng chứng về sự mất cân xứng thùy trán/ thùy thái dương từ xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh.

Chẩn đoán có thể sa sút trí tuệ thùy trán – thái dương khi không có bất kỳ bằng chứng nào về đột biến di truyền hay bất thường hình ảnh học.

Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ thể Lewy ( DSM 5 )

  1. Thỏa mãn tiêu chuẩn sa sút trí tuệ.
  2. Rối loạn này có khởi phát từ từ và tiến triển tăng dần.
  3. Thỏa mãn đồng thời tiêu chuẩn chính và những tiêu chuẩn gợi ý cho bệnh lý có khả năng hoặc có thể sa sút trí tuệ thể Lewy.
    Nếu chẩn đoán có khả năng sa sút trí tuệ thể Lewy: Phải có 2 tiêu chuẩn chính hoặc ≥ 1 tiêu chuẩn chính và 1 tiêu chuẩn gợi ý.
    Nếu chẩn đoán có thể sa sút trí tuệ thể Lewy: Chỉ có 1 tiêu chuẩn chính hoặc ≥ 1 tiêu chuẩn gợi ý.
    1. Tiêu chuẩn chính:
      1. Dao động nhận thức với những biến động rõ ràng của sự chú ý và tỉnh táo.
      2. Ảo thị ( nhìn thấy những thứ không có thật ) tái phát được hình thành rõ ràng và chi tiết.
      3. Các đặc điểm của hội chứng Parkinson tự phát, phải khởi phát sau biểu hiện suy giảm nhận thức.
    2. Tiêu chuẩn gợi ý:
      1. Thỏa mãn tiêu chuẩn rối loạn hành vi trong giấc ngủ REM ( pha chuyển động mắt nhanh ).
      2. Nhạy cảm với thuốc chống loạn thần nặng.
  4. Rối loạn này không được giải thích phù hợp hơn bởi các bệnh lý mạch máu não, các bệnh lý thoái hóa thần kinh khác, tác dụng của một chất hoặc các bệnh lý tâm thần, thần kinh hoặc bệnh lý hệ thống khác.
 

6. Chẩn đoán phân biệt

  • Trầm cảm: 50% bệnh nhân già có hội chứng trầm cảm giả sa sút trí tuệ sẽ phát triển thành sa sút trí tuệ thật sự trong vòng 3-5 năm.
  • Chậm phát triển tâm thần: Giảm khả năng trí tuệ, có thể không đi kèm giảm trí nhớ.
  • Giảm chức năng nhận thức do không hiểu được ngôn ngữ.
  • Mê sảng.
  • Giảm trí nhớ bình thường do tuổi tác: Số lượng tế bào não và chất dẫn truyền thần kinh bắt đầu giảm dần sau tuổi 20, tuổi càng cao càng suy giảm nghiêm trọng. Người mắc phải suy nghĩ khá lâu mới nhớ được tên người, quên việc mình đang định làm… nhưng có thể sẽ nhớ lại được vào một thời điểm khác. Điều này không cản trở quá nhiều trong sinh hoạt hằng ngày cũng như ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
 

7. Các trắc nghiệm đánh giá

Đứng trước một trường hợp nghi ngờ sa sút trí tuệ, ta có thể đánh giá cơ bản bằng các trắc nghiệm sàng lọc hoặc các trắc nghiệm đánh giá nhận thức cơ bản như:

  • Đánh giá sự tập trung chú ý: Có thể nhờ người bệnh đếm xuôi hoặc ngược từ 1 đến 10 hoặc 20 đến 40…, trắc nghiệm nối số và từ, trắc nghiệm gạch bỏ từ…
  • Đánh giá trí nhớ được chia làm ba mục
    • Trí nhớ tức thì/ trí nhớ làm việc ( working memory) : Được đánh giá bằng trắc nghiệm tập trung chú ý.
    • Trí nhớ gần ( recent memory ): Là khả năng học thông tin mới. Để đánh giá trí nhớ gần, có thể sử dụng (1) trí nhớ lời nói ( verbal memory ) như ghi nhớ danh sách từ ( word list recall ), nhớ câu chuyện ( story recall ); và (2) trí nhớ hình ảnh ( visual memory ) như trắc nghiệm nhớ hình ảnh ( picture recall ).
    • Trí nhớ xa ( remote memory ) đánh giá bằng cách yêu cầu bệnh nhân nói về các sự kiện lớn hoặc tên những nhân vật nổi tiếng, nói về quá khứ của bản thân ( cần người thân kiểm chứng các thông tin này ).
  • Đánh giá ngôn ngữ: Qua cách bệnh nhân trả lời câu hỏi, trò chuyện.
  • Đánh giá chức năng thị giác – không gian: Yêu cầu bệnh nhân vẽ những hình ảnh tương đối phức tạp như hình lập phương, hình đa giác lồng vào nhau…
  • Đánh giá hoạt động hằng ngày: Thường qua hoạt động hằng ngày cơ bản ( ăn uống, vệ sinh cá nhân ) và hoạt động sử dụng công cụ ( dùng điện thoại, mua sắm, nấu nướng, quản lý tiền bạc, uống thuốc…).
 

8. Xét nghiệm

Vai trò của xét nghiệm cận lâm sàng trong sa sút trí tuệ chủ yếu nhằm mục đích loại trừ các nguyên nhân gây sa sút trí tuệ có thể điều trị hoặc can thiệp được, loại trừ chẩn đoán phân biệt và phần nào giúp xác định nguyên nhân.

  • Xét nghiệm cơ bản
    • Công thức máu, tốc độ lắng máu ( VS ).
    • C – reactive protein ( CRP ).
    • Sinh hóa: Chức năng gan thận, điện giải đồ, đường huyết.
    • Xét nghiệm chức năng tuyến giáp.
    • Định lượng vitamin B12 và folate huyết thanh.
  • Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán giang mai hoặc HIV nên được thực hiện trong trường hợp sa sút trí tuệ người trẻ, người có nguy cơ hoặc biểu hiện lâm sàng gợi ý.
  • X – quang ngực hoặc điện tâm đồ tùy thuộc bệnh cảnh lâm sàng. Nên làm điện tâm đồ nếu bệnh nhân đang dùng thuốc kháng men acetylcholinesterase.
  • Hình ảnh học: CT, MRI, PET scan.
  • Khảo sát dịch não tủy, điện não đồ, sinh thiết não, các đột biến di truyền…
 

9. Điều trị

Chủ yếu điều trị theo nguyên nhân, nếu bệnh nhân được xác định mắc Alzheimer có thể sử dụng các thuốc kháng men cholinesterase ( Galantamine, Rivastigmine, Donepezil…) và thuốc đối vận NMDA ( Memantine ). Tham khảo thêm bài Bệnh Alzheimer để rõ hơn về các thuốc điều trị.

Đối với sa sút trí tuệ do mạch máu, các thuốc kháng men cholinesterase và đối vận NMDA cũng được chứng minh có tác dụng cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó còn có thể kể đến vai trò của thuốc tăng trưởng thần kinh và các thuốc khác như Citicoline, Gingobiloba EGb761, Cerebrolysin.

Bên cạnh đó, nếu bệnh nhân có các triệu chứng tâm thần như kích động, trầm cảm, mất ngủ, có thể dùng thêm các thuốc hướng thần, chống trầm cảm, thực hiện vệ sinh giấc ngủ ( tránh cà phê, uống sữa ấm, dùng dầu lavender…).

10. Dự phòng

Chủ yếu là các biện pháp thay đổi lối sống: Loại trừ yếu tố nguy cơ tim mạch bằng cách tập thể dục thể thao phù hợp với lứa tuổi, chế độ ăn nhiều rau xanh, chất xơ và chất béo thực vật; không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, stress; tích cực tham gia các hoạt hoạt động giao tiếp xã hội, hoạt động vận dụng trí tuệ, khả năng tính toán, ghi nhớ…

11. Dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh sa sút trí tuệ

Để phát hiện sớm bệnh sa sút trí tuệ mà nguyên nhân chủ yếu do bệnh Alzheimer gây ra, bản thân người cao tuổi, gia đình và người xung quanh nên chú ý đến những dấu hiệu sau

  1. Suy giảm trí nhớ ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày: Quên mất các sự kiện, ngày quan trọng, thường xuyên tự nhắc lại lời nói hoặc phải dựa vào trợ giúp từ bên ngoài để ghi nhớ ( giấy nhớ, phần mềm nhắc nhở ).
  2. Gặp khó khăn trong lập kế hoạch và giải quyết vấn đề: Thường xảy ra ở các hoạt động như mua bán, thanh toán hóa đơn hoặc lên kế hoạch nấu những món ăn quen thuộc.
  3. Gặp khó khăn trong các công việc hằng ngày: Nấu nướng, lái xe, dùng điện thoại, mua sắm.
  4. Gặp rắc rối trong việc xác định thời gian, nơi chốn: Không hiểu được những sự kiện sẽ xảy ra sau đó, hoặc mất khái niệm về ngày tháng.
  5. Gặp rắc rối về nhận thức hình ảnh – không gian: Giữ thăng bằng và xác định khoảng cách bị hạn chế, hay làm rơi rớt đồ vật, dễ trượt ngã.
  6. Gặp rắc rối về từ ngữ trong nói hoặc viết: Khó tham gia vào cuộc trò chuyện và thường mất thời gian để tìm ra từ định nói, nói vòng vo ( ví dụ gọi đồng hồ đeo tay là “cái đồ để xem giờ đeo trên tay” ).
  7. Đặt đồ vật sai chỗ một cách đáng kể ( bỏ chìa khóa vào máy giặt ) và không thể  lần theo trí nhớ để tìm ra đồ vật.
  8. Giảm khả năng phán đoán: Dễ bị lừa gạt, không quản lý tiền bạc được, không quan tâm đến vệ sinh thân thể hoặc chăm sóc thú cưng.
  9. Thoái lùi trong công việc và giao tiếp xã hội: Không muốn đến các nơi bình thường hay lui tới ( nhà thờ, công viên, câu lạc bộ… ), khó theo dõi trọn vẹn một trận bóng hoặc những chuyện đang xảy ra.
  10. Thay đổi tính cách: Dễ dàng nóng giận với những tình huống bình thường, trở nên sợ hãi và hay nghi ngờ.
   

Hỏi đáp

Nó phụ thuộc vào nguyên nhân của bệnh sa sút trí tuệ mà nó có thể được chữa khỏi hay không. Đôi khi phẫu thuật hoặc thuốc có thể loại bỏ hoàn toàn hoặc cải thiện tình trạng bệnh.

Ví dụ, sa sút trí tuệ có thể được chữa khỏi khi khối máu tụ được phẫu thuật cắt bỏ trong trường hợp nguyên nhân do tụ máu dưới màng cứng mãn tính. Mặt khác, hiện không có cách chữa trị chứng sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ thể Lewy và thùy trán – thái dương.

Trong giai đoạn sớm, bệnh nhân thường sẽ dần gặp phải các tình huống bất tiện trong cuộc sống do suy giảm trí nhớ gây ra như: quên mất vị trí đồ vật, các việc cần làm, quên mất cách nấu ăn, hoặc dễ nổi nóng, sợ hãi và nghi ngờ. Để tìm hiểu rõ hơn xin tham khảo phần “Dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh sa sút trí tuệ”. 

Tham vấn y khoa

“Khi tuổi thọ con người ngày càng tăng thì tần suất bệnh lý về Sa sút trí tuệ nói chung và bệnh Alzheimer nói riêng cũng ngày càng gia tăng. Bệnh ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, tạo gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội.

Việc chẩn đoán và điều trị còn gặp nhiều khó khăn, cần có sự phối hợp nhiều chuyên khoa như Nội thần kinh, Lão khoa… Nhận biết sớm các biểu hiện bệnh để được thăm khám, tư vấn và điều trị sớm là cần thiết. Tôi hy vọng bài viết của Bs. Phạm Ngọc Viên Phúc sẽ cung cấp cho quý vị những thông tin thật sự hữu ích.”

 Bs Nguyễn Hoàng Tuấn Vũ

Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn Vũ

Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn Vũ

Thạc sỹ - Bác sĩ Nguyễn Hoàng Tuấn Vũ là người đã có gần 20 năm kinh nghiệm trong điều trị bệnh nhân có bệnh lý Nội khoa và Lão khoa. Hiện đang công tác tại Bệnh viện nhân dân Gia Định và tham dự Dự án CARE4 với tư cách là người cộng tác kiểm định về chuyên môn về bài viết liên quan cho các bệnh lý thường gặp của người cao tuổi.

Xem thông tin bác sĩ

Bệnh liên quan

Dịch vụ của Care For

Khám phá những nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc gần nhất

Bạn đang tìm gì ? Danh sách hơn 10,000 dịch vụ về chăm sóc người cao tuổi