Mục lục

1. Tổng quan

Trầm cảm (Depression) là hội chứng rối loạn tâm thần phổ biến ở mọi lứa tuổi. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên toàn cầu có hơn 264 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm. Ở nước ta, trầm cảm chiếm tỷ lệ 3.15% toàn bộ dân số. Người cao tuổi có thể dễ bị trầm cảm hơn người trẻ. Bệnh lý được đặc trưng bởi cảm giác buồn bã và mất hứng thú dai dẳng, rối loạn vận động.

Trầm cảm gây ảnh hưởng đến cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của người bệnh. Đồng thời có thể dẫn đến nhiều vấn đề về tinh thần và thể chất. Người bệnh gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động bình thường hàng ngày và nếu kéo dài ở cường độ vừa hoặc nặng trong một thời gian dài thì có thể trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Trầm cảm không phải là biểu hiện của quá trình lão hóa bình thường mà thực chất cũng là bệnh lý cần phải chữa trị.

2. Phân loại

Dựa theo Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các loại Rối loạn tâm thần, tái bản lần thứ 5 (DSM-5) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, trầm cảm được chia thành:
  • Rối loạn trầm cảm mạnh
  • Rối loạn trầm cảm dai dẳng
  • Rối loạn hoảng loạn tiền kinh nguyệt
  • Các rối loạn trầm cảm khác (do lạm dụng chất kích thích, tác dụng phụ của thuốc, điều kiện y tế hoặc các nguyên nhân được chỉ định hoặc không xác định khác).
Các loại trầm cảm này được phân biệt dựa trên thời gian và số lượng các triệu chứng ngoài tâm trạng buồn bã và / hoặc chứng loạn trương lực cơ, mức độ suy giảm chức năng và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Ngoài ra, cũng có thể thấy các triệu chứng trầm cảm như một phần của bệnh rối loạn sung huyết hoặc rối loạn lưỡng cực.

3. Cơ chế bệnh sinh

  • Nội sinh: Nguyên nhân chính xác gây các rối loạn trầm cảm là không rõ ràng nhưng có sự kết hợp bởi yếu tố di truyền, sinh học, môi trường và tâm lý.
  • Rối loạn chất dẫn truyền thần kinh: Những thay đổi trong chức năng và tác dụng của những chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến việc duy trì sự ổn định tâm trạng có thể đóng một vai trò quan trọng trong bệnh trầm cảm. Ví dụ, những bất thường trong dopamine có thể liên quan đến suy giảm động lực và sự tập trung, nồng độ thấp của norepinephrine và dopamine có thể đóng vai trò trong việc gây mệt mỏi và mất ngủ và suy giảm điều hòa norepinephrine và serotonergic có thể gây ra các triệu chứng thể chất.
  • Sự thay đổi hormone: Những thay đổi trong cân bằng hormone của cơ thể có thể liên quan đến việc gây ra hoặc kích hoạt trầm cảm. Sự thay đổi hormone có thể do mang thai và trong những tuần đầu hoặc vài tháng sau khi sinh và do các vấn đề về tuyến giáp, mãn kinh hoặc một số bệnh khác. 

3. Yếu tố nguy cơ

Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển hoặc gây ra trầm cảm bao gồm:

  • Tuổi >65: Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân ngoại trú trên 65 tuổi dao động từ 7% đến 36%, tùy thuộc vào bối cảnh. Có tới 50% bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson phát triển thành rối loạn trầm cảm; những người chăm sóc họ, bất kể tuổi tác, cũng có nguy cơ gia tăng.
  • Tiền sử gia đình: Nguy cơ mắc bệnh cao hơn nếu tiền sử gia đình có người bị trầm cảm hoặc một chứng rối loạn tâm trạng khác.
  • Trầm cảm sau sinh: Khoảng 19% phụ nữ sau sinh bị trầm cảm nặng trong 3 tháng đầu sau sinh. Phụ nữ từng bị rối loạn tâm thần, hỗ trợ xã hội kém và mang thai ngoài ý muốn có nguy cơ cao hơn. Các chương trình nuôi dạy con cái có thể cải thiện sức khỏe tâm lý xã hội ngắn hạn của các bà mẹ
  • Do bệnh lý đang mắc phải: bệnh lý tim mạch, nội tiết, thần kinh, ung thư, bệnh truyền nhiễm…Bệnh cảnh dễ làm nảy sinh trầm cảm và ngược lại, trầm cảm có thể làm cho bệnh có xu hướng nặng thêm và tăng nguy cơ tử vong.
  • Lạm dụng rượu và các chất kích thích: Dùng rượu và chất ma túy độc hại khác làm cho người ta rất dễ mắc chứng trầm cảm. Việc dùng các thứ này cũng tạo ra nguy cơ tự tử cao ở những người mắc các chứng trầm cảm.
  • Các yếu tố tâm lý khác như căng thẳng do áp lực công việc, học tập, mất mát người thân đột ngột, hoàn cảnh gia đình, người lao động mất việc trong đại dich Covid-19…

4. Triệu chứng

Có nhiều triệu chứng liên quan đến trầm cảm khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân và giai đoạn của bệnh. Không phải ai bị trầm cảm cũng trải qua mọi triệu chứng. Một số người chỉ gặp một vài triệu chứng trong khi những người khác có thể gặp nhiều triệu chứng. Một số triệu chứng thường gặp bao gồm:

    • Tâm trạng buồn dai dẳng, lo lắng hoặc cảm thấy trống rỗng
    • Cảm giác tuyệt vọng hoặc bi quan
    • Cáu gắt, cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực
    • Mất hứng thú hoặc mất hứng thú với các sở thích và hoạt động
    • Giảm năng lượng hoặc mệt mỏi
    • Di chuyển hoặc nói chậm hơn
    • Cảm thấy bồn chồn hoặc khó ngồi yên
    • Khó tập trung, ghi nhớ hoặc đưa ra quyết định
    • Khó ngủ, thức dậy vào sáng sớm hoặc ngủ quên
    • Cảm giác thèm ăn hoặc thay đổi cân nặng
    • Suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử hoặc cố gắng tự sát
    • Đau hoặc nhức, đau đầu, chuột rút hoặc các vấn đề tiêu hóa mà không có nguyên nhân rõ ràng về thể chất không thuyên giảm ngay cả khi điều trị

Trầm cảm ở người lớn tuổi có thể khó nhận biết vì họ có thể biểu hiện các triệu chứng khác với những người trẻ tuổi. Đối với một số người lớn tuổi bị trầm cảm, buồn bã không phải là triệu chứng chính của họ. Họ có thể có các triệu chứng trầm cảm khác, ít rõ ràng hơn hoặc có thể không sẵn sàng nói về cảm xúc của mình.

6. Chẩn đoán

  • Khám lâm sàng: Đo chiều cao và cân nặng, kiểm tra dấu hiệu sinh tồn như nhịp tim, huyết áp và nhiệt độ, nghe tim và phổi và kiểm tra bụng.
  • Xét nghiệm: Chỉ định làm công thức máu hoặc kiểm tra chức năng tuyến giáp của bệnh nhân.
  • Đánh giá tâm lý: Bác sĩ sẽ hỏi về các triệu chứng, suy nghĩ, cảm xúc và kiểu hành vi của bệnh nhân sau đó được yêu cầu điền vào bảng câu hỏi để giúp trả lời những câu hỏi này. Bảng câu hỏi PHQ-9 được sử dụng như một công cụ chẩn đoán và quản lý bệnh tật gồm 9 mục phản ánh các tiêu chí DSM-5 và phân loại các triệu chứng hiện tại theo thang điểm
      • 5-9đ: Nhẹ
      • 10-14đ: Trung bình
      • 15-19đ: Trung bình nặng
      • ≥ 20đ: Nặng
  • DSM-5. Chuyên gia sức khỏe tâm thần của bạn có thể sử dụng các tiêu chí về chứng trầm cảm được liệt kê trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê về Rối loạn Tâm thần (DSM-5) do Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ xuất bản. Bảng tiêu chuẩn DSM-5 gồm 9 triệu chứng thường gặp, bệnh nhân có từ 5 triệu chứng trở lên kéo dài trên 2 tuần hoặc có 1 trong 2 triệu chứng u uất cả ngày/ Giảm hay mất mọi hứng thú có thể đã mắc bệnh.

7. Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt giữa loạn khí sắc và rối loạn trầm cảm chủ yếu là rất khó do thực tế là cả 2 rối loạn có triệu chứng giống nhau nhưng sự khác biệt giữa chúng ở giai đoạn khởi phát, độ dài, độ bền và mức độ nặng không dễ đánh giá hồi cứu.

Rối loạn trầm cảm chủ yếu được xác định từ một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm chủ yếu riêng rẽ có các giai đoạn lui bệnh giữa các cơn trầm cảm chủ yếu, trong khi loạn khí sắc được đặc trưng bởi các triệu chứng trầm cảm nhẹ và biểu hiện liên tục trong nhiều năm.

8. Điều trị

Mục tiêu điều trị

Nhằm loại bỏ các triệu chứng trầm cảm, cải thiện hoạt động hàng ngày và chất lượng cuộc sống, cải thiện hoạt động tại nơi làm việc, giảm tình trạng tự tử, giảm thiểu tác dụng phụ của điều trị và ngăn ngừa tái phát. Trầm cảm nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời thì nguy cơ bệnh nhân tự sát là rất cao chiếm 50% tổng số bệnh nhân trầm cảm.

Điều trị không dùng thuốc

  • Điều trị hỗ trợ: Một số người cao tuổi bị trầm cảm lại không hề nói gì về những cảm giác của mình và rất cần được chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, người nhà bệnh nhân hãy giúp đỡ người bệnh bằng cách chia sẻ mối quan tâm của bạn dành cho họ, để biết họ không cô đơn và lắng nghe tích cực những
  • Vận động thể lực: Bệnh nhân được khuyến cáo nên tham gia các hoạt động thể thao như yoga, thiền, thái cực quyền… mỗi ngày 20 phútx 3 lần/tuần nhằm điều chỉnh nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh về mức cân bằng.
  • Chế độ ăn uống hợp lý: Cố gắng thay đổi chế độ ăn một cách khoa học, thay đổi khẩu phần ăn giàu rau xanh và trái cây.
  • Liệu pháp tâm lý: Tư vấn tâm lý điều trị trầm cảm là một phương pháp điều trị bằng cách nói chuyện về tình trạng và các vấn đề liên quan với chuyên viên sức khỏe tâm thần. Thông qua điều trị bằng cách đối thoại, người bệnh sẽ nhận ra những nguyên nhân bệnh trầm cảm của mình và sẽ có hiểu biết tốt hơn để thay đổi những rối loạn hành vi hoặc tư duy,  tìm được những cách tốt hơn để đối phó, giải quyết vấn đề và thiết lập những mục tiêu phù hợp.

Điều trị dùng thuốc

  • Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI): Các bác sĩ thường bắt đầu bằng cách kê đơn SSRI. Những loại thuốc này an toàn hơn và thường ít gây ra tác dụng phụ khó chịu hơn so với các loại thuốc chống trầm cảm khác bao gồm citalopram (Celexa), escitalopram (Lexapro), fluoxetine (Prozac), paroxetine (Paxil, Pexeva), sertraline (Zoloft) và vilazodone (Viibryd).
  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI): Duloxetine (Cymbalta), venlafaxine (Effexor XR), desvenlafaxine (Pristiq, Khedezla) và levomilnacipran (Fetzima).
  • Thuốc chống trầm cảm không điển hình: Những loại thuốc này không phù hợp với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào khác bao gồm Bupropion , Mirtazapine (Remeron), nefazodone, trazodone và vortioxetine (Trintellix).
  • Thuốc chống trầm cảm ba vòng như Imipramine (Tofranil), nortriptyline (Pamelor), amitriptyline, doxepin, trimipramine (Surmontil), desipramine (Norpramin) và protriptyline (Vivactil): Điều trị hiệu quả nhưng tác dụng phụ nghiêm trọng hơn so với các loại thuốc mới hơn thuốc chống trầm cảm. Vì vậy, thuốc ba vòng thường không được kê đơn trừ khi bệnh nhân đã điều trị với SSRI trước mà không cải thiện.
  • Thuốc ức chế monoamine oxidase (IMAOs) như Tranylcypromine (Parnate), phenelzine (Nardil) và isocarboxazid (Marplan): Thuốc được kê đơn khi các loại thuốc chống trầm cảm khác không hiệu quả đồng thời sử dụng MAOI đòi hỏi một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt vì các tương tác nguy hiểm (hoặc thậm chí gây chết người) với thực phẩm giàu tyramin như pho mát, dưa chua và rượu vang
  • Lithium: Sử dụng chủ yêu để điều trị rối loạn lưỡng cực, ngăn ngừa giai đoạn hưng cảm khi các thuốc khác không đem lại hiệu quả tốt.
  • Các thuốc chống loạn thần: Có thể được thêm vào thuốc chống trầm cảm để tăng cường tác dụng chống trầm cảm.

Liệu pháp khác

  • Liệu pháp sốc điện (ETC): Dòng điện được truyền qua não để tác động đến chức năng và tác dụng của các chất dẫn truyền thần kinh trong não để làm giảm triệu chứng trầm cảm. ECT thường được sử dụng cho những người không khỏi bệnh bằng thuốc, không thể dùng thuốc chống trầm cảm vì lý do sức khỏe hoặc có nguy cơ tự tử cao.
  • Kích thích thần kinh phế vị (VNS): Liệu pháp này được FDA chấp thuận từ năm 2005 liên quan đến việc kích thích dây thần kinh phế vị từng nhịp thông qua một máy phát xung được cấy ghép, dùng trong trường hợp trầm cảm kháng trị nhưng thường mất từ 3 đến 6 tháng để có hiệu quả.

10. Dự phòng

Trầm cảm là căn bệnh hoàn toàn có thể dự phòng được, thông qua việc tạo môi trường sống, học tập, làm việc lành mạnh. Sự quan tâm chia sẻ, hỗ trợ của gia đình, thầy cô, bè bạn, đồng nghiệp, cộng đồng là vô cùng quan trọng để dự phòng và kiểm soát trầm cảm. Đồng thời bệnh nhân nên tìm hiểu thông tin y tế để có nhận thức đúng về trầm cảm, cách nhận biết, phát hiện sớm để đi khám, tư vấn và điều trị kịp thời.

Tham vấn y khoa

“Trầm cảm là vấn đề sức khỏe tương đối phổ biến trong cuộc sống bộn bề ngày nay. Nó có thể khởi phát từ những áp lực trong công việc, những khó khăn trong cuộc sống. Và cũng có thể từ sự bất mãn khi cuộc sống hiện tại không như những gì người ta kỳ vọng. Do đó, hãy ý thức rằng, mỗi chúng ta đều có vẻ đẹp riêng. Hãy nhìn vào những điều tích cực và tốt đẹp của bản thân. Hạn chế so sánh bản thân mình với người khác. Và nếu so sánh, hãy dùng mặt mạnh của mình để sánh với mặt mạnh của họ. Đừng đem điểm yếu của bản thân để so với điểm mạnh của đối phương. Điều đó càng làm ta thêm áp lực và bất mãn, rồi sinh ra trầm cảm.

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân tuyệt đối KHÔNG nên tự ý ngừng thuốc đột ngột vì nó có thể làm các triệu chứng trầm cảm đột ngột xấu đi, thậm chí dẫn tới nguy cơ tự tử. Khi cần ngừng thuốc trầm cảm, bạn hãy trao đổi với bác sỹ để được hướng dẫn giảm liều dần dần.”

Bs. Lê Trọng Đại

Tài liệu tham khảo

  1. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/depression
  2. https://online.epocrates.com/diseases/55/Depression-in-adults
  3. https://www.nia.nih.gov/health/depression-and-older-adults
  4. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/diagnosis-treatment/drc-20356013