Mục lục

1. Tổng quan

Đột quỵ (Stroke) hay còn gọi là tai biến mạch máu não là bệnh lý nguy hiểm thường gặp ở người cao tuổi. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới WHO, đột quỵ là một hội chứng lâm sàng bao gồm “các dấu hiệu rối loạn chức năng của não (khu trú hoặc toàn thể) phát triển nhanh, kéo dài từ 24 giờ trở lên hoặc dẫn đến tử vong mà không xác định nguyên nhân nào khác ngoài căn nguyên mạch máu”.

Tại Việt Nam, mỗi năm có hơn 200.000 người mắc đột quỵ, trong đó có đến 50% số ca đột quỵ diễn biến xấu đi và tử vong. Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới sau bệnh tim mạch và ung thư và là nguyên nhân hàng đầu để lại di chứng tàn tật. Việc chẩn đoán và điều trị sớm đột quỵ là vấn đề rất quan trọng, góp phần giảm thiểu tử vong và tàn tật.

2. Phân loại

  • Thiếu máu não: dạng thường gặp nhất, chiếm 75 – 80% tất cả các trường hợp đột quỵ. Đây là tình trạng đột quỵ do các cục máu đông làm tắc nghẽn động mạch, cản trở quá trình máu lưu thông lên não gồm huyết khối mạch não (50%) và thuyên tắc mạch não (30%).
  • Xuất huyết não: ít gặp hơn chỉ chiếm 20%, là tình trạng mạch máu não bị vỡ do tăng huyết áp đột ngột, trong đó xuất huyết nội sọ chiếm 15% và xuất huyết dưới nhện chiếm 5%.
  • Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA): tình trạng tương tự như đột quỵ thiếu máu não nhưng thời gian kéo dài chỉ trong vài phút. Đây cũng là một dấu hiệu cảnh báo nhồi máu thật sự có thể xảy ra trong tương lai nếu không được phòng ngừa.

3. Yếu tố nguy cơ

3.1 Yếu tố không thể tác động

  • Tiền sử gia đình: Người có người thân từng bị đột quỵ hoặc mắc các bệnh lý nhồi máu cơ tim, thiếu máu não thoáng qua có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với người bình thường.
  • Giới tính: Mặc dù cả phụ nữ và nam giới đều có thể bị đột quỵ nhưng nữ giới có nguy cơ mắc bệnh hơn nam giới.
  • Tuổi tác: Người trên 55 tuổi có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn người trẻ
  • Chủng tộc và dân tộc: Người da trắng, người Mỹ gốc Á và người gốc Tây Ban Nha ít có nguy cơ bị đột quỵ hơn người Mỹ gốc Phi, người bản địa Alaska và người Mỹ da đỏ.

3.2 Yếu tố bệnh lý

  • Tăng huyết áp: Huyết áp tăng cao tạo nên áp lực lên thành động mạch dẫn đến xuất huyết não. Bên cạnh đó, tăng huyết áp hình thành cục máu đông làm tắc nghẽn động mạch gây cản trở quá trình máu lưu thông lên não.
  • Đái tháo đường: Các vấn đề về tuần hoàn liên quan đến đái tháo đường có thể tăng nguy cơ đột quỵ kể cả khi mức đường huyết và insulin được kiểm soát chặt chẽ.
  • Tăng mỡ máu: Yếu tố hình thành các mảng xơ vữa gây tắc nghẽn thành động mạch.
  • Tiền sử đột quỵ: Nguy cơ cao kéo dài khoảng 5 năm và giảm dần theo thời gian, nguy cơ cao nhất là trong vòng vài tháng đầu tiên.

3.3 Yếu tố khác

  • Hút thuốc lá: Khói thuốc gây tổn thương thành mạch máu, gia tăng xơ cứng động mạch và là nguyên nhân gây tăng huyết áp.
  • Lối sống không lành mạnh: lười vận động, ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo, lạm dụng rượu bia, chất kích thích.
  • Thừa cân, béo phì

4. Triệu chứng

Hiệp Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ (ASA) đưa ra những dấu hiệu nhận biết rất đơn giản. Các dấu hiệu này được tóm tắt bằng chữ F.A.S.T gồm:

  • Face (Khuôn mặt): Cảm giác tê cứng, liệt mặt, méo miệng, nhân trung lệch đi, biểu hiện rõ khi bệnh nhân cười, nhe răng.
  • Arms (Tay): tê mỏi 1 bên, không nâng được tay/ chân lên
  • Speech (Ngôn ngữ): Nói khó, đột nhiên nói ngọng
  • Time (Thời gian): Nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu trên, hãy gọi ngay cấp cứu đưa bệnh nhân đến bệnh viện có điều trị đột quỵ gần nhất.

Ngoài ra, các dấu hiệu và triệu chứng khác của đột quỵ bao gồm: Yếu hoặc tê 1 nửa người, giảm hoặc mất thị lực, đặc biệt là ở 1 bên mắt, đau đầu dữ dội, đột ngột không có nguyên nhân rõ ràng, đứng không vững hoặc ngã đột ngột không rõ nguyên nhân.

5. Biến chứng

  • Liệt vận động: Tay chân bị co cứng, khó vận động
  • Rối loạn ngôn ngữ
  • Suy giảm nhận thức
  • Rối loạn thị giác
  • Động kinh
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu, bàng quang.

6. Chẩn đoán

  • Khám lâm sàng: kiểm tra dấu hiệu sinh tồn như đo huyết áp, nhịp tim
  • Xét nghiệm máu: kiểm tra thời gian đông máu, lượng đường trong máu cao hay thấp và có bị nhiễm trùng hay không.
  • Chụp CT: Phương pháp được ưu tiên sử dụng trong các trường hợp đột quỵ bởi đưa ra chẩn đoán nhanh chóng, chính xác và giúp đưa ra quyết định can thiệp điều trị kịp thời.
  • Chụp MRI: Cung cấp thông tin về động mạch não như có hẹp, tắc, có túi phình hoặc có huyết khối trong lòng mạch hay không.
  • Siêu âm doppler động mạch cảnh: Thường được sử dụng để sàng lọc tình trạng bệnh nhân tắc nghẽn hoặc hẹp động mạch cảnh. Từ đó có thể là nguyên nhân gây đột quỵ ở người bệnh.
  • Chọc dò tủy sống: Trong trường hợp nghi ngờ chảy máu dưới nhện có chụp cắt lớp vi tính bình thường, phải tiến hành chọc dịch não tủy để xác định chẩn đoán.

8. Điều trị

Mục tiêu điều trị

Bệnh nhân cần tái thông mạch máu càng sớm càng tốt, nhất là trong khoảng “thời gian vàng”  3-4 giờ đầu để hạn chế biến chứng, tìm kiếm nguyên nhân đột quỵ não để dự phòng đột quỵ tái phát và phục hồi thần kinh bằng tập phục hồi chức năng.

Điều trị dùng thuốc

  • Thuốc ly giải huyết khối (rTPA): phải được dùng trong vòng 3 đến 4.5 giờ khi các triệu chứng của đột quỵ bắt đầu và sau khi loại trừ xuất huyết qua CT scan. Thuốc được tiêm vào mạch máu cho tác dụng nhanh giúp giảm nguy cơ biến chứng do đột quỵ.
  • Thuốc chống kết tập tiểu cầu: Phổ biến nhất bao gồm Aspirin và Clopidogrel (Plavix) được sử dụng để ngăn ngừa đột quỵ do thiếu máu cục bộ và đặc biệt quan trọng trong việc ngăn ngừa đột quỵ thứ phát.
  • Thuốc chống đông: Warfarin (Jantoven, Coumadin) làm ngăn ngừa cục máu đông hiện tại phát triển lớn hơn.
  • Thuốc kiểm soát huyết áp: Labetalol, Enalapril, Nicardipin… Huyết áp cao có thể khiến các mảng bám tích tụ trong động mạch bị vỡ ra. Những mảnh này có thể làm tắc nghẽn động mạch, gây đột quỵ. Do đó kiểm soát huyết áp cao có thể giúp ngăn ngừa đột quỵ.
  • Statin: Simvastatin (Zocor) và Atorvastatin (Lipitor) có tác dụng giảm cholesterol, ngăn chặn việc hình thành mảng xơ vữa trong lòng mạch.

Điều trị ly giải huyết khối cơ học

Khi các thuốc ly giải huyết khối bị chống chỉ định hoặc sử dụng không hiệu quả thì phải dùng đến các thiết bị ly giải huyết khối cơ học. Thời gian sử dụng đạt hiệu quả trong vòng 6-16 giờ.

9. Phục hồi sau đột quỵ

Đột quỵ là một nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật lâu dài ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hiệp hội Đột quỵ Quốc gia báo cáo rằng 10% số người sống sót sau đột quỵ phục hồi gần như hoàn toàn, trong khi 25% khác phục hồi chỉ với những tổn thương nhỏ.

Điều quan trọng là phục hồi sau đột quỵ phải bắt đầu càng sớm càng tốt. Trên thực tế, quá trình hồi phục đột quỵ nên bắt đầu trong bệnh viện. Tại đó, nhóm chăm sóc có thể ổn định tình trạng của bệnh nhân, đánh giá ảnh hưởng của đột quỵ, xác định các yếu tố cơ bản và bắt đầu liệu pháp để giúp lấy lại một số kỹ năng bị ảnh hưởng.

10. Dự phòng

  • Người cao tuổi nên tăng cường vận động, tham gia các hoạt động thể dục, thể thao phù hợp, vừa sức như tập dưỡng sinh, yoga, đi bộ… ít nhất 5 ngày/tuần, 30 phút mỗi ngày.
  • Kiểm soát cân nặng, đường huyết, tránh tăng cân, béo phì, khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần giúp phát hiện sớm nhất nguy cơ đột quỵ và các bệnh lý tiềm ẩn.
  • Chế độ dinh dưỡng cân đối: hạn chế thực phẩm giàu chất béo. Các loại thực phẩm giúp phòng tránh đột quỵ bao gồm:
    • Thực phẩm giàu Omega-3 như cá hồi, cá ngừ, cá thu.
    • Đậu lăng, rau có màu sẫm, măng tây, bông cải, các loại hạt, củ cải… giàu folate (vitamin B9).
    • Thực phẩm giúp giảm Cholesterol xấu như yến mạch, đậu nành, hạnh nhân.
    • Thực phẩm giàu magie như ngũ cốc, chuối, quả bơ, các loại đậu, rong biển, mâm xôi…
    • Uống nhiều nước lọc, nước trái cây.
  • Ngưng hút thuốc lá do thuốc lá vừa làm tăng nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi vừa gây hại cho sức khỏe bệnh nhân và người xung quanh.

Tham vấn y khoa

“Trước đây, trong xã hội có quan niệm rằng đột quỵ não hầu hết xảy ra ở người cao tuổi, có bệnh lý tim mạch. Nhưng thực tế hiện nay, đột quỵ não xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Với những người cao tuổi, có bệnh lý nền (như bệnh tiểu đường, tim mạch, tăng huyết áp, bệnh xương khớp …) sẽ có nguy cơ cao bị nhồi máu não, do các cục máu đông hình thành trong lòng mạch di chuyển tới tim, rồi từ tim di chuyển tới các mạch máu nhỏ ở não. Nhóm người cao tuổi này cần tuân thủ chế độ điều trị, cũng như lịch hẹn khám định kỳ của bác sĩ. Để tầm soát nguy cơ xuất hiện các huyết khối tĩnh mạch và huyết khối động mạch.

Với nhóm người trẻ, nguyên nhân dẫn tới đột quỵ thường do vỡ các búi dị dạng mạch. Do đó, nếu bạn có triệu chứng đau đầu triền miên. Đừng chỉ nghĩ đó là do áp lực của công việc. Rất có thể bạn đang có một dị dạng mạch trong não. Hãy đi khám bác sĩ chuyên khoa thần kinh để được làm các xét nghiệm loại trừ dị dạng mạch não.

Bs. Lê Trọng Đại 

Tài liệu tham khảo

  1. https://moh.gov.vn/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/-/asset_publisher/7ng11fEWgASC/content/dau-hieu-ot-quy-can-ua-benh-nhan-cap-cuu-ngay-lap-tuc?inheritRedirect=false
  2. https://www.healthline.com/health/stroke-types#complications
  3. https://hoithankinhhocvietnam.com.vn/nghien-cuu-bien-chung-sau-dot-quy-thieu-mau-nao/
  4. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/stroke/diagnosis-treatment/drc-20350119