Tổng quan

Loãng xương là bệnh lý đặc trưng bởi sự rối loạn chuyển hóa dẫn đến quá trình giảm mật độ xương và sức mạnh của xương, làm xương trở nên yếu và dễ tổn thương. Bệnh nhân loãng xương có thể dễ dàng bị gãy xương chỉ với một va chạm nhẹ, hoặc ngã từ tư thế đứng, trong các hoạt động đời sống hằng ngày của họ. Bệnh thường không có biểu hiện cụ thể, thường chỉ được phát hiện khi gãy xương đã xảy ra.

Loãng xương là một bệnh lý thường gặp gia tăng theo tuổi với tần suất mắc bệnh tăng đáng kể sau tuổi 60, nữ giới gặp nhiều hơn nam giới.

Phân loại

Loãng xương tiên phát

Chiếm phần lớn các trường hợp loãng xương, với cơ chế chính là tăng hủy xương, làm giảm khối lượng xương và tổn thương vi kiến trúc, nhưng đôi khi là do sự tạo xương bị suy giảm. Cơ chế mất xương có thể bao gồm:

  • Thay đổi tại chỗ các cytokine hủy xương, như tăng các cytokine kích thích quá trình hủy xương
  • Rối loạn đáp ứng tạo xương trong quá trình tái tạo xương ( có thể do giảm số lượng và khả năng hoạt động của các tạo cốt bào liên quan đến tuổi )
  • Các yếu tố khác như suy giảm các yếu tố tăng trưởng tại chỗ và toàn thân.

Loãng xương tiên phát do tuổi già thường xuất hiện trễ, diễn tiến từ từ theo thời gian và ít biến chứng nặng nề như xẹp đốt sống.

Loãng xương sau mãn kinh do suy giảm nồng độ oestrogen và tăng mất calci, thường nghiêm trọng hơn ở những phụ nữ phải cắt bỏ buồng trứng hoặc bệnh nhân ung thư dùng liệu pháp ức chế aromatase.

Loãng xương thứ phát

Chỉ chiếm từ 5-20%, thường là hậu quả của các bệnh lý toàn thân khác: Ung thư xương, COPD, bệnh thận mạn, cường giáp, cường cận giáp, đái tháo đường, bệnh gan, thiếu vitamin D, dùng thuốc corticoid thời gian dài,…

Yếu tố nguy cơ

  • Tuổi: nguy cơ loãng xương tăng dần theo tuổi, cho nên mặc dù không có thêm yếu tố nguy cơ nào khác, phụ nữ trên 60 và đàn ông trên 70 tuổi vẫn nên được kiểm tra và đo mật độ xương định kỳ
  • Thiếu dinh dưỡng: còi xương, suy dinh dưỡng, chế độ ăn ít protein, thiếu vitamin D
  • Tiền sử gia đình có cha, mẹ bị loãng xương hoặc gãy xương
  • Ít hoạt động thể lực, ít hoạt động ngoài trời, nằm tại chỗ thời gian dài
  • Uống rượu, bia, cà phê, hút thuốc lá
  • Có các bệnh lý: suy buồng trứng sớm, mãn kinh sớm, cắt buồng trứng, thiểu năng tinh hoàn, bệnh nội tiết ( cường giáp, cường cận giáp ), bệnh thận mạn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày, bệnh xương khớp mạn tính ( viêm khớp dạng thấp, thoái hoá khớp )
  • Cần sử dụng dài hạn một số thuốc: Chống động kinh ( Dihydan ), thuốc tiểu đường ( Insulin ), thuốc chống đông ( Heparin ) và thuốc kháng viêm Corticosteroid.

Triệu chứng

Bệnh thường không triệu chứng, thường chỉ được phát hiện khi đã có gãy xương hoặc qua các xét nghiệm cận lâm sàng. Các biểu hiện có thể gặp:

  • Đau lưng cấp tính hoặc mạn tính, không lan, tăng lên khi vận động và chịu lực nặng
  • Biến dạng cột sống: gù, vẹo, giảm chiều cao
  • Đau ngực, khó thở ( do giảm thể tích lồng ngực ), đau bụng, khó tiêu ( do chèn ép ổ bụng )
  • Gãy xương: Gãy do loãng xương thường xuất hiện ở cổ tay, cánh tay, xương chậu, xương hông, cột sống, gây đau đớn dữ dội, khuyết tật nghiêm trọng và thậm chí tử vong.

Bên cạnh biểu hiện lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng có thể gợi ý tình trạng loãng xương:

  • Xquang: hình ảnh tăng thấu quang và mất cấu trúc bè xương, dấu hiệu gãy xương
  • Đo mật độ xương bằng phương pháp đo hấp phụ tia X năng lượng kép ( Dual Energy Xray Absorptiometry – DXA ): xác định loãng xương, dự đoán nguy cơ gãy xương.
  • Xét nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo xương: nông độ calci huyết thanh, magie, phospho, PTH, chức năng gan, calci và creatinin

Chẩn đoán

Để chẩn đoán xác định loãng xương, Tổ chức Y tế thế giới ( WHO ) đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào điểm đo mật độ xương ở xương cột sống hoặc cổ xương đùi, tính bằng T score:

  • Xương bình thường: T score từ – 1SD trở lên.
  • Thiếu xương ( Osteopenia ): T score dưới – 1SD đến – 2,5SD.
  • Loãng xương ( Osteoporosis ): T score dưới – 2,5SD.
  • Loãng xương nặng: T score dưới – 2,5 SD kèm tiền sử/ hiện tại có gãy xương

Trường hợp không có điều kiện đo mật độ xương có thể chẩn đoán xác định loãng xương khi đã có biến chứng gãy xương dựa vào triệu chứng lâm sàng, yếu tố nguy cơ và Xquang.

Điều trị

Mục tiêu điều trị

Mục tiêu hàng đầu trong điều trị loãng xương là bảo vệ khối lượng xương, ngăn ngừa gãy xương, giảm đau, và duy trì chức năng vận động cho người bệnh.

Điều trị dùng thuốc

Nhóm Bisphosphonat

Hiện là nhóm thuốc được lựa chọn đầu tiên trong điều trị các bệnh lý loãng xương ( người già, phụ nữ sau mãn kinh, nam giới, do corticosteroid ).

Chống chỉ định: phụ nữ có thai và cho con bú, người dưới 18 tuổi ( cần xem xét từng trường hợp cụ thể ), bệnh nhân suy thận với độ lọc cầu thận (GFR)<35 ml/phút

Tác dụng phụ chủ yếu của bisphosphonate dạng uống: kích ứng đường tiêu hóa trên gây viêm thực quản, loét dạ dày, nuốt khó…

  • Alendronat ( uống ): mỗi tuần một lần, uống sáng sớm, khi bụng đói, kèm nhiều nước. Sau uống nên vận động, không nằm sau uống thuốc ít nhất 30 phút.
  • Ibandronate ( uống, tiêm tĩnh mạch ): mỗi tháng một lần, uống sáng sớm, khi bụng đói, kèm nhiều nước. Sau uống nên vận động, không nằm sau uống thuốc ít nhất 60 phút.
  • Zoledronic acid ( truyền tĩnh mạch ): mỗi tháng một lần. Thuốc có khả dụng sinh học vượt trội hơn đường uống, không gây kích ứng đường tiêu hóa và dễ dàng tuân thủ điều trị.

Các nhóm thuốc khác 

  • Calcitonin: Được chiết suất từ cá hồi, có hai dạng tiêm dưới da hoặc xịt qua niêm mạc mũi. Chỉ định ngắn ngày ( 2 – 4 tuần ) trong trường hợp mới gãy xương, đặc biệt khi có kèm triệu chứng đau. 
  • Liệu pháp sử dụng các chất giống hormon: Chỉ định đối với phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao hoặc có loãng xương sau mãn kinh: Raloxifen uống mỗi ngày, thời gian ≤ 2 năm.
  • Romosozumab vừa được FDA chấp thuận 2018 cho điều trị loãng xương ở phụ nữ mãn kinh với tác dụng tăng tạo xương

Điều trị không dùng thuốc

  • Điều trị ngoại khoa: phẫu thuật thay khớp hoặc bắt vít, tạo hình đốt sống,…
  • Chế độ ăn uống: Ăn thực phẩm giàu calci ( chế phẩm từ sữa, cá hồi, rau chân vịt, củ cải, sữa đậu nành, quả óc chó, ngũ cốc nguyên hạt ), bổ sung vitamin D
  • Thay đổi lối sống: Tăng cường vận động, cải thiện sự dẻo dai của cơ thể, tránh uống rượu, cà phê quá nhiều, ngưng thuốc lá,…
  • Dùng các dụng cụ hỗ trợ: nẹp chỉnh hình, xe lăn,…

Dự phòng

Vấn đề loãng xương nên được chú ý ở những người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh hoặc bệnh nhân có tiền sử còi xương, thiểu xương. Biện pháp dự phòng thường bao gồm chế độ ăn uống giàu calci, vitamin D; tập thể dục phù hợp với lứa tuổi và tránh các tác nhân có hại như uống rượu bia quá mức, hút thuốc lá. Thăm khám và đo mật độ xương định kỳ 6 tháng đến 1 năm để phát hiện sớm sự suy giảm mật độ xương cũng nên được cân nhắc.

Dấu hiệu cảnh báo loãng xương

  • Đã từng gãy xương sau tuổi 50
  • Nhẹ cân: chỉ số khối cơ thể BMI = cân nặng (kg)/ chiều cao2 (m) dưới 19, ở mức nhẹ cân cũng là một yếu tố nguy cơ loãng xương, do có khả năng làm giảm nồng độ oestrogen ở nữ giới tương tự như khi mãn kinh.
  • Giảm ≥4 cm chiều cao sau tuổi 40
  • Gia đình có người thân từng bị gãy xương hông, hoặc từng được chẩn đoán loãng xương
  • Tụt nướu: biểu hiện của tình trạng tiêu xương hàm
  • Lực cầm nắm của bàn tay giảm
  • Móng tay yếu và dễ gãy
  • Tư thế gù lưng, cúi người ra trước
  • Đau lưng, cổ, gáy

Tài liệu tham khảo

  1. International Osteoporosis Foundation (2020), Strong bones make stronger women
  2. Marcy B. Bolster (2017), Osteoporosis
  3. Lê Anh Thư (2019), Chẩn đoán và điều trị loãng xương, Điều trị bệnh nội khoa, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Nhà xuất bản Y học
  4. William Morrison và Healthline Editorial Team (2019), Osteoporosis Symptoms

Nhận xét của người giám sát

  • Loãng xương là bệnh lý khá phổ biến ở người cao tuổi, hiện đã và đang trở thành vấn đề cần được quan tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng nhất là ở người cao tuổi và phụ nữ sau tuổi mãn kinh. Bệnh ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người bệnh ngoài triệu chứng đau thì gãy xương luôn là nỗi đe dọa với bản thân người bệnh và gia đình.
  • Loãng xương là tiến trình tự nhiên của cơ thể, âm thầm nhưng nguy hiểm trong quá trình lão hóa, đặc trưng bởi sự mất chất xương làm cho xương trở nên giòn và dễ gãy. Thường gặp ở người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh nhưng cũng có thể do một số nguyên nhân khác như cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, tiểu đường, nghiện rượu, nằm điều trị lâu tại giường, dùng một số thuốc như thuốc corticoide mà bà con hay gọi là “đề xa” không đúng cách trong thời gian dài. Loãng xương do các nguyên nhân này có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào.
  • Loãng xương diễn ra âm thầm trong nhiều năm, lúc đầu còn nhẹ bệnh không có bất kỳ biểu hiện gì nên người bệnh không biết hoặc chủ quan không lo điều trị sớm. Cho đến khi xuất hiện tình trạng đau lưng hay gãy xương thì bệnh đã quá nặng lúc này việc điều trị rất khó khăn, tốn kém, ít hiệu quả.
  • Cho nên đối với loãng xương, việc phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm rất quan trọng, nhất là với những người bước vào tuổi trung niên, phụ nữ sau tuổi mãn kinh đặc biệt là những trường hợp mãn kinh sớm ở tuổi 40, những trường hợp đang dùng thuốc có thể gây loãng xương. Trong việc phòng ngừa các bạn cần lưu ý đến chế độ ăn uống, rèn luyện thân thể bằng thể dục thể thao, không tự ý dùng các loại thuốc có thể gây loãng xương; chỉ dùng thuốc khi có chỉ định của bác sĩ.

 

 

 



Bác sĩ Nguyễn Đăng Ngọc Duyên

 

Xem thông tin bác sĩ